CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI ISRAEL(1948 – B 3 1993) 1.1 Vị thế của Trung Đông trong chiến lược của Hoa Kì sau Chiến tranh thế giới B 5 1 thứ hai Là đế quốc “sinh sau đẻ muộn” nên Mĩ chưa gây dựng được nhiều ảnh hưởng trên thế giới. Sau Đại chiến thứ hai, Hoa Kì là nước chiếm ưu thế tuyệt đối trong thế giới tư bản và trong công nghiệp quân sự, mạnh lên về mọi mặt và trở thành một trong hai siêu cường của thế giới. Bằng sức mạnh, Mĩ tích cực can dự vào các vấn đề quốc tế, phân chia lại thế giới theo hướng có lợi nhất. Để làm được điều đó, Washington đã hoạch định và thực thi chiến lược toàn cầu nhằm phục vụ lợi ích quốc gia.
Khu vực Trung Đông với những ưu thế về vị trí địa - chính trị đã trở thành trọng điểm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì Về kinh tế, với nguồn dự trữ khổng lồ, chiếm đến 65,2% (89,3 tỉ tấn) trữ lượng dầu mỏ đã được thăm dò của cả thế giới (136 tỉ tấn) [68, tr.24] nên Trung Đông đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Các mỏ dầu lại tập trung chủ yếu ở khu vực Vùng Vịnh Persian, bao gồm các nước như Saudi Arabia, Iran, Iraq, Kuwait, khai thác dầu ở Trung Đông do vậy cũng đứng đầu thế giới về đặc điểm khai thác thuận lợi, chất lượng tốt và giá thành rẻ. Mỗi năm có hàng trăm triệu tấn dầu từ Trung Đông được vận chuyển khắp nơi. Theo số liệu vào những năm 90 của thế kỷ XX, Trung Đông cung cấp 35% trong 50% lượng dầu nhập vào Hoa Kì, 75% dầu cho NATO, 80% dầu cho Nhật Bản [68, tr.
Là nguyên nhiên liệu quan trọng của nhiều ngành công nghiệp, dầu mỏ trở thành điều kiện sống còn cho sự phát triển kinh tế của các nước, đặc biệt là những nước tư bản. Dầu lửa trở thành yếu tố chủ chốt, chi phối mối tương quan lực lượng giữa các cường quốc mà trong đó, nước nào có khả năng tác động sâu vào sản lượng khai thác, vận chuyển và giá thành thì nước đó có thể điều khiển hệ thống kinh tế thế giới. Cũng từ dầu mỏ, các nước trong khu vực Trung Đông đã thu được một khoản lợi tức khổng lồ (petrodollar), trở thành khu vực kinh tế - tài chính lớn của thế giới, là nơi có nguồn vốn béo bở mà các nước tư bản khao khát thu hút. Thế nên “cái rốn” dầu mỏ của thế giới đã quan trọng lại càng quan trọng hơn.
Đối với Hoa Kì, cường quốc công nghiệp thế giới, dầu mỏ càng có ý nghĩa chiến lược hàng 18 đầu. Chính tổng thống George Bush đã phải thừa nhận đây là vấn đề an ninh của Mĩ. Thế nên, khống chế và duy trì ảnh hưởng đối với nguồn cung ứng dầu lửa luôn là một trong những vấn đề chiến lược trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì ở Trung Đông. Trung Đông không chỉ thu hút thế giới bởi yếu tố dầu lửa mà còn vì lợi ích kinh tế của kênh đào Suez.
Ngay từ thời cận đại, kênh Suez đã đóng một vai trò cực kì quan trọng trong vận tải quốc tế. Hoàn thành vào năm 1869, kênh nối liền Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải với chiều dài 192km, rộng 365m. Là kênh chuyên chở quan trọng giữa châu Âu và châu Á, rút ngắn lộ trình trên biển so với đường vòng qua mũi Hảo Vọng, 42% lộ trình đến Bombay, 32% lộ trình đến Singapore và 24% lộ trình đến Yokohama. Điều này đã giúp giảm đáng kể chi phí vận chuyển.
Do đó, kênh đào Suez trở thành một trong những điểm qua lại thiết yếu trên những tuyến đường hàng hải quan trọng của thế giới, đặc biệt từ Tây Bắc châu Âu đến Ấn Độ Dương và Viễn Đông với lượng hàng hóa vận chuyển chiếm tới 22% tổng số lượng hàng vận chuyển đường biển trên thế giới. Tải trọng hàng hóa được vận chuyển qua kênh không ngừng tăng lên: từ 436. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, số tải trọng hàng hóa tăng lên gấp ba, cứ mỗi mười năm: 92. Số tàu chở dầu qua kênh chiếm 40% lượng tàu vận chuyển dầu trên thế giới và gần 80% lượng tàu vận chuyển hàng hóa của châu Á.
Thêm vào đó, eo biển Hormuz không chỉ là tuyến đường ra biển duy nhất của các nước Vùng Vịnh mà còn là tuyến đường yết hầu chuyên chở dầu mỏ xuất khẩu của các nước Trung Đông. Mặt khác, các nước Trung Đông tuy rất giàu có nhưng chưa nước nào đứng vào hàng ngũ các nước phát triển, có trình độ kỹ thuật, công nghệ cao nên khu vực này trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước công nghiệp phát triển. Trung Đông cũng là điểm đến của một khối lượng lớn vũ khí từ Mĩ. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, Trung Đông là nơi chạy đua vũ trang giữa các nước trong khu vực.
Nhân cơ hội này, Hoa Kì và NATO càng gia tăng kim ngạch xuất khẩu vũ khí và các trang thiết bị quân sự vào Trung Đông. Kim ngạch của Mĩ chiếm đến 52,2% trong tổng số 48 tỉ USD giá trị kim ngạch vũ khí, trang thiết bị chiến tranh của các nước Trung Đông [68, tr. 19 Về chính trị, Trung Đông là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại nhưng cũng lại là nơi hội tụ nhiều mâu thuẫn, xung đột của thế giới, và là nơi chịu tác động nhiều nhất của yếu tố ngoại lực. Khu vực này được xem là quê hương của ba tôn giáo: Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo.
Thế nên, xung đột về dân tộc, tôn giáo xảy ra liên miên. Thêm vào đó, nội bộ giữa các nước trong khu vực lại thiếu thống nhất do tính chất phức tạp về lịch sử và chính trị nên phát triển theo xu hướng khác nhau. Những nước có trữ lượng dầu mỏ nhiều thì thu nhập cao và kinh tế phát triển mạnh như các nước Vùng Vịnh, và ngược lại như Jordan, Lebanon, Yemen. Sự phát triển không đồng đều về kinh tế dẫn đến sự phân hóa sâu sắc giữa các nước gây ra tình trạng không ổn định, không đoàn kết, thậm chí luôn xung đột và căng thẳng, đã tạo nên một Trung Đông yếu ớt.
Lợi dụng tình hình chính trị phức tạp trong vùng, Mĩ đã can thiệp và chi phối các diễn biến ở đây nhằm biến Trung Đông trở thành một khu vực lệ thuộc. Về an ninh - quân sự, đặc điểm nổi bật của Trung Đông là “cửa ô” của ba châu lục: Á – Âu – Phi, nơi quy tụ những ảnh hưởng của các siêu cường Anh, Pháp, Nga. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Đông được xem là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng thứ ba sau châu Âu và Châu Á – Thái Bình Dương, nên bị chi phối khá mạnh của cục diện Chiến tranh lạnh trong việc phân chia lại bản đồ thế giới. Vị trí địa - chính trị của Trung Đông có tầm quan trọng về an ninh - quân sự mang ý nghĩa chiến lược sống còn đối với Mĩ.
Từ Trung Đông, có thể kiểm soát được ba châu, uy hiếp Bắc Phi, Balkan và Nam Á. Trung Đông lại có vị trí thuận lợi trong việc triển khai lực lượng quân sự của Washington tại Nam Âu, bờ biển Đông Phi và châu Á. Tổng thống Eisenhower nhận định không vùng nào trên thế giới có vị trí chiến lược quan trọng hơn Trung Đông, nó hòa nhập quanh Địa Trung Hải, nối liền ba đại dương (Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương), là cửa ngõ giao thông của thế giới, phục vụ cho sự phát triển kinh tế hàng hóa, thương mại và phòng thủ an ninh khu vực. Tổng thống Nixon cũng từng phát biểu: “Trung Đông là cái sườn phía đông của NATO, là cửa ngõ vào châu Phi.
Do vị trí của Trung Đông ở ngã tư thực sự của thế giới, cho nên kẻ nào khống chế được khu vực này sẽ khống chế được châu Âu” [dẫn lại theo 68, tr. Vì những lợi ích trên, Trung Đông trở thành trọng điểm trong chính sách của Mĩ. Washington đã tận dụng các đầu mối giao thông để duy trì sự có mặt ở khu vực này. Ngoài 20 ra, đối với Mĩ, Trung Đông còn có một ý nghĩa quan trọng khác là nơi tiếp giáp với sườn phía Nam của Liên Xô – tiền đồn xã hội chủ nghĩa.
Do đó, án ngữ được Trung Đông thì ngăn chặn được ảnh hưởng của làn sóng cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc lan rộng. Hơn thế nữa, khống chế được Trung Đông tức là nắm được con đường huyết mạch quốc tế để làm bá chủ thế giới. Chính vì thế, từ sau Thế chiến thứ hai, những quốc gia trong khu vực lần lượt giành lại độc lập từ Anh, Pháp cần môi trường an ninh ổn định và sự hậu thuẫn về kinh tế trong công cuộc hoạch định con đường xây dựng và phát triển đất nước. Đây thật sự là điều kiện thuận lợi để Mĩ dễ dàng thâm nhập và triển khai chính sách của Mĩ một cách toàn diện.2 Chính sách của Hoa Kì đối với Israel (1948-1993) B 6 1 Từ khi lập quốc đến khi được trở thành đồng minh chiến lược, đồng hành cùng tồn tại, T 1 phát triển với Hoa Kì và nhận được sự trợ giúp từ Washington, Israel đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm trong lịch sử.1 Chính sách của Hoa Kì đối với tiến trình thành lập một nhà nước Do Thái ở B 6 2 T 1 Palestine Palestine (vùng đất gồm Israel và lãnh thổ của người Ảrập - Palestine ngày nay) nằm ở T 1 đầu Tây Nam “mảnh đất phì nhiêu hình trăng khuyết”, giữa các nước Syria và Ai Cập ngày nay, chạy dọc theo bờ Đông Địa Trung Hải.
Hơn 4000 năm trước, vùng đất Palestine đã T 1 T 1 từng in dấu các quốc gia hùng mạnh do nhiều bộ tộc người Canaan, người Philistine…, người Hebrew (tổ tiên của người Do Thái) xây dựng nên. Vào năm 64 TCN, đế quốc La Mã chiếm Palestine và từ năm 135, sau cuộc nổi dậy cuối cùng bị thất bại, người Do Thái bị tàn sát hết sức dã man, họ buộc phải rời bỏ quê hương và lưu tán đến nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Dù sống tha hương nhưng người Do Thái vẫn luôn hi vọng vào sự trở về “vùng đất hứa” – xứ Canaan. Trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, hi vọng đó đã từng bước được hiện thực hóa bởi Theodore Herzl và Tổ chức Phục quốc Do Thái (World Zionist Organization - WZO) theo chủ thuyết Zionism.