Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012" do nghiên cứu sinh Võ Thị Kim Thảo thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế (năm 2021), thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới (mã số: 62.11). Công trình nghiên cứu quá trình vận động, phát triển và bản chất của mối quan hệ song phương giữa Cộng hòa Singapore và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trong giai đoạn lịch sử 22 năm sau Chiến tranh Lạnh.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tiễn phát triển của Singapore: từ một đảo quốc diện tích nhỏ (khoảng 700 km²), nghèo nàn tài nguyên, phải nhập khẩu nước ngọt sinh hoạt, Singapore đã vươn lên thành một trong những quốc gia phát triển tại châu Á, có thu nhập bình quân đầu người cao và trở thành trung tâm tài chính, thương cảng quốc tế. Một nhân tố quan trọng dẫn tới sự phát triển này là chính sách đối ngoại thực dụng, tận dụng vị trí địa chiến lược và nhu cầu địa chính trị, kinh tế của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á để thực hiện chiến lược "vay mượn sức mạnh" từ siêu cường này. Về phía Hoa Kỳ, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, việc duy trì sự hiện diện tại Đông Nam Á đòi hỏi sự phối hợp từ các đối tác khu vực như Singapore. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là tại Việt Nam, các công trình trước đây mới chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ hoặc các giai đoạn ngắn, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về quan hệ song phương Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012 dưới góc độ lịch sử thế giới.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ tiến trình vận động, phát triển cũng như bản chất của quan hệ Singapore – Hoa Kỳ giai đoạn 1990 – 2012 trong mối liên hệ so sánh, qua đó rút ra những nhận xét, đánh giá độc lập về mối quan hệ song phương này. Để đạt được mục tiêu, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ những nhân tố tác động hình thành mối quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012.
  2. Phân tích diễn biến nội dung quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012 trên các lĩnh vực hợp tác cụ thể: chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, kinh tế.
  3. Đánh giá thành tựu, hạn chế; phân tích tính chất, đặc điểm và tác động của mối quan hệ Singapore – Hoa Kỳ.

Các câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra bao gồm:

  1. Những nhân tố nào tác động đến mối quan hệ hai nước trong bối cảnh mới?
  2. Mục tiêu chiến lược của Singapore và Hoa Kỳ trong mối quan hệ song phương này là gì?
  3. Diễn biến quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012 trên các lĩnh vực và những thành tựu, hạn chế?
  4. Bản chất, đặc điểm của mối quan hệ?
  5. Tác động của mối quan hệ Singapore – Hoa Kỳ đối với từng nước và đối với khu vực Đông Nam Á như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh – quốc phòng, kinh tế giữa Singapore và Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012, bao gồm các nhân tố tác động, tiến trình quan hệ, thành tựu, hạn chế, đặc điểm, tính chất và tác động đối với từng chủ thể và khu vực.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian: Giai đoạn 1990 – 2012. Mốc năm 1990 được chọn do đây là thời điểm Chiến tranh Lạnh đi vào hồi kết (sự kiện bức tường Berlin sụp đổ tháng 11/1989, Liên Xô tan rã năm 1991), đồng thời tại Singapore diễn ra sự chuyển giao quyền lực lần thứ nhất khi Thủ tướng Lý Quang Diệu từ chức ngày 28/11/1990 và ông Goh Chok Tong lên thay. Giai đoạn trước năm 1990 được điểm lại khái lược để làm rõ cơ sở lịch sử. Mốc kết thúc năm 2012 đánh dấu sự kết thúc nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, đồng thời là năm hai nước lần đầu tiên tổ chức Đối thoại Đối tác Chiến lược Hoa Kỳ – Singapore (SPD) cấp bộ trưởng.
  • Không gian: Tập trung nghiên cứu quan hệ song phương cấp nhà nước giữa Cộng hòa Singapore và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ với tư cách là các thực thể chính trị - xã hội đơn nhất. Các cơ chế đa phương chỉ được xem xét khi đặt trong tương quan hoặc bối cảnh chung.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo sát các nguồn tài liệu trong nước và quốc tế, chia thành các nhóm nghiên cứu chính:

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam:

  • Nhóm đề cập trực tiếp đến quan hệ Singapore – Hoa Kỳ: Tác giả Trần Khánh trong tác phẩm Thành công của Singapore trong phát triển kinh tế (1993) đã phân tích vai trò của Hoa Kỳ trong hợp tác kinh tế, giúp Singapore trở thành trung tâm tài chính và công nghiệp lọc dầu, đồng thời nhấn mạnh việc Singapore tranh thủ sự bảo trợ an ninh của Hoa Kỳ để tập trung xây dựng kinh tế. Trần Khánh và Trịnh Hải Tuyến trong bài viết Bàn về hành động địa chiến lược của Cộng hoà Singapore (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12/2020) đã phân tích chiến lược cân bằng nước lớn của Singapore với trọng tâm là cặp quan hệ Mỹ – Trung. Các bài báo của Trịnh Hải Tuyến (2019) trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á khảo sát chiến lược cân bằng của Singapore thập niên 1990 và quan hệ song phương giai đoạn 2004 – 2017. Dương Văn Quảng trong cuốn sách Singapore đặc thù và giải pháp (2007) đã dành chương 6 phân tích quan hệ hai nước trong và sau Chiến tranh Lạnh, gồm hợp tác kinh tế, quan hệ chiến lược và cuộc chiến chống khủng bố.
  • Nhóm nghiên cứu các quan hệ song phương đối sánh: Tôn Nữ Hải Yến với luận án tiến sĩ Quan hệ Singapore – Trung Quốc từ năm 1990 đến 2010 (2016); Nguyễn Mại và nhóm nghiên cứu Văn phòng Chính phủ với đề tài Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ (2007), cung cấp cơ sở so sánh chính sách của hai nước đối với các đối tác lớn.
  • Nhóm nghiên cứu bối cảnh khu vực và chính sách đối ngoại: Bài viết của Ngô Thị Bích Lan (2018) về vai trò địa chính trị của Đông Nam Á đối với Hoa Kỳ; Hồ Sỹ Quý (2015) về nghịch lý phát triển của Singapore; Trần Khánh (2008) về kinh nghiệm phát triển sức mạnh quốc gia của Singapore; báo cáo Hồ sơ thị trường Singapore của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2015); Trần Thị Hợi (2014) về chính sách phòng chống tham nhũng của Singapore.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

  • Nhóm nghiên cứu về tình hình và chính sách đối ngoại mỗi nước: Carroll C. (2011) với luận văn thạc sĩ tại Đại học Georgetown khảo sát quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN thời kỳ Barack Obama; John Wong (2016) phân tích 12 đặc điểm trong chính sách đối ngoại của Singapore; Garry Rodan (1993) nghiên cứu sự biến đổi kinh tế, xã hội và chính trị của Singapore trong tác phẩm Singapore Changes Guard; Ho Khai Leong (2003) phân tích hệ thống chính trị và hoạch định chính sách của Singapore thời Lý Quang Diệu và Goh Chok Tong. Các nghiên cứu khác của Amitav Acharya (2008), Alan Chong (2016), David Shambaugh và Michael Yahuda (2008), J. Boone Bartholomees, Jr. (2010) cung cấp bối cảnh quốc tế và an ninh chiến lược.
  • Nhóm nghiên cứu tổng thể quan hệ song phương: Asad-ul Iqbal Latif (2009) trong Three Sides in Search of a Triangle khẳng định Singapore là đối tác an ninh thân cận nhất của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á; David Adelman (2012) phân tích ba trụ cột an ninh, thương mại và đối thoại chiến lược thường niên; Emma Chanlett-Avery (2013) và Ben Dolven (2019) trong các báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Hoa Kỳ (CRS) tổng hợp các nội dung hợp tác quốc phòng, thương mại, đầu tư; Graham Allison, Robert D. Blackwill và Ali Wyne (2012) hệ thống hóa quan điểm của Lý Quang Diệu về Hoa Kỳ, Trung Quốc và trật tự thế giới; Lý Quang Diệu trong hồi ký From Third World to First (2000) thuật lại các tiếp xúc và điều chỉnh chính sách với Hoa Kỳ; Wei Sheng Damien Lim (2017) với luận văn thạc sĩ tại Trường Cao học Hải quân Hoa Kỳ phân tích nguồn gốc ổn định trong quan hệ song phương giai đoạn 2001 – 2016.
  • Nhóm nghiên cứu từng lĩnh vực chuyên sâu:
    • Chính trị – ngoại giao: Robyn Klingler Vidra (2012) phân tích chiến lược phòng ngừa rủi ro (hedging) của Singapore giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc; Wei Boon Chua (2014) nghiên cứu lịch sử quan hệ ngoại giao giai đoạn 1965 – 1975; Joel Hodson (2003) nghiên cứu vụ việc Michael Fay năm 1994 và các bất đồng về giá trị dân chủ, nhân quyền; Ong Keng Yong (2015) nêu bật vai trò ngoại giao cá nhân của Lý Quang Diệu; Smith (2005) và Lynn Kuok (2016) đánh giá quan hệ đối tác ổn định giữa hai quốc gia.
    • An ninh – quốc phòng: Barry Desker và Ang Cheng Guan (2015) khảo sát an ninh Singapore 50 năm; Cai Dexian (2013) bàn về tiếp cận an ninh thực dụng; William T. Tow phân tích vị trí của Singapore trong hệ thống San Francisco; See Seng Tan (2011) và Evelyn Goh (2005) nghiên cứu sự song trùng lợi ích trong ứng phó các mối đe dọa xuyên quốc gia và chống khủng bố.
    • Kinh tế: Eul-Soo Pang (2007, 2011) nghiên cứu Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ – Singapore (USSFTA) gắn với mục tiêu an ninh; Antonio Garrastazu (2008) và Seongho Sheen (2001) nghiên cứu chính sách kiểm soát xuất khẩu và đàm phán thương mại; Tommy Koh và Chang Li Lin (2004, 2005) trình bày chi tiết tiến trình đàm phán và kết quả thực thi USSFTA; Daniel P. Green và James K. Sebenius (2014) khảo sát chiến dịch đàm phán đa mặt trận của Tommy Koh; Ramkishen S. Rajan, Rahul Sen và Reza Siregar (2001) phân tích thương mại và đầu tư song phương.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước chỉ đề cập khái quát hoặc xét trong từng thời kỳ ngắn. Các nghiên cứu quốc tế chủ yếu tiếp cận dưới góc độ quan hệ quốc tế, kinh tế chính trị hoặc nghiên cứu chính sách, thiếu tính hệ thống sử học xuyên suốt. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc dựng lại tiến trình lịch sử quan hệ Singapore – Hoa Kỳ trong toàn bộ giai đoạn 1990 – 2012 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết: Luận án kết hợp vận dụng hai lý thuyết lớn của khoa học quan hệ quốc tế để giải thích các quyết sách của hai nước:

  • Chủ nghĩa hiện thực (Realism): Được sử dụng nhằm lý giải các vấn đề cốt lõi về sự sinh tồn và an ninh của đảo quốc Singapore, việc theo đuổi lợi ích quốc gia tối cao, tối đa hóa quyền lực của cả hai nước, hệ thống cân bằng quyền lực và việc xây dựng các dàn xếp an ninh nhằm duy trì trật tự khu vực. Luận án nhận định chính sách đối ngoại của cả Singapore và Hoa Kỳ đều mang nặng tính toán theo chủ nghĩa hiện thực.
  • Chủ nghĩa tự do (Liberalism): Được áp dụng để phân tích các nội dung liên quan đến tự do hóa thương mại, mở rộng thị trường, ký kết hiệp định mậu dịch tự do và sự hợp tác hướng đến các mục tiêu chung vì hòa bình và phát triển kinh tế.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Luận án tuân thủ phương pháp luận Sử học Mác-xít trong đánh giá các sự kiện lịch sử, kết hợp quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử (lịch đại và đồng đại) được sử dụng để tái hiện quá trình phát triển của mối quan hệ theo trình tự thời gian liên tục gắn với bối cảnh cụ thể. Phương pháp logic được áp dụng để khái quát bản chất, xu hướng và quy luật vận động của mối quan hệ. Tác giả sử dụng lập luận quy nạp từ nguồn dữ liệu thực chứng. Ngoài ra, luận án áp dụng các phương pháp liên ngành như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu và thống kê tư liệu.

Nguồn tư liệu:

  • Nguồn tư liệu gốc: Các văn kiện, tuyên bố chung và bài phát biểu chính thức của lãnh đạo chính phủ Singapore và Hoa Kỳ; các văn kiện pháp lý song phương như Bản ghi nhớ năm 1990 (MOU 1990), Nghị định thư sửa đổi MOU (AMOU), Hiệp định khung chiến lược (SFA 2005), Thỏa thuận hợp tác quốc phòng nâng cao (DCA), Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ – Singapore (USSFTA 2003); thông cáo báo chí và các số liệu lưu trữ của VCCI.
  • Nguồn tài liệu tham khảo: Sách chuyên khảo, bài tạp chí khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học, báo cáo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu châu Mỹ, Học viện Ngoại giao, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai mảng: tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và tình hình nghiên cứu ở nước ngoài. Tác giả phân tích những kết quả nghiên cứu đã đạt được của các học giả đi trước về sự phát triển kinh tế của Singapore, chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á, các mối quan hệ tam giác (như Singapore – Hoa Kỳ – Trung Quốc), cũng như các công trình chuyên sâu về chính trị, an ninh và kinh tế song phương. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận, những vấn đề còn có quan điểm trái chiều và xác định rõ khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết: cung cấp một công trình nghiên cứu lịch sử có hệ thống, toàn diện về quan hệ Singapore – Hoa Kỳ giai đoạn 1990 – 2012.

Chương 2. Những nhân tố tác động đến quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012

Chương 2 phân tích các nhân tố tác động đến sự hình thành và điều chỉnh chính sách đối ngoại của hai nước.

Bối cảnh quốc tế và khu vực: Sau Chiến tranh Lạnh, trật tự hai cực tan rã, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất và tìm cách duy trì vị thế chi phối toàn cầu. Sự ra đời của Diễn đàn APEC tháng 11/1989 thúc đẩy tự do hóa thương mại và chuyển giao công nghệ cao. Tại Đông Nam Á, khu vực có diện tích 4.047.000 km² và dân số ước tính 600 triệu người (năm 2014), án ngữ các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trữ lượng dầu khí tại Biển Đông (ước tính khoảng 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỉ khối khí đốt tự nhiên) làm tăng vị trí địa chiến lược của khu vực. Năm 1991, thương mại Hoa Kỳ – ASEAN đạt 50 tỷ USD, đưa ASEAN thành đối tác thương mại lớn thứ 5 của Mỹ. Sau khi quân đội Mỹ và Liên Xô giảm hiện diện tại Đông Nam Á, nguy cơ "khoảng trống quyền lực" xuất hiện. Sau các sự kiện bắt giữ nhóm Jemaah Islamiyah và các vụ đánh bom tại Bali (2002), Jakarta (2003), Đông Nam Á trở thành "mặt trận thứ hai" trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu của Mỹ. Singapore thực hiện chiến lược "đàn cá" (cách so sánh của Thủ tướng Goh Chok Tong: cá nhỏ muốn tồn tại phải hòa mình vào đàn cá để bảo vệ mình) và chủ trương lôi kéo sự hiện diện của Hoa Kỳ để cân bằng quyền lực khu vực.

Nhân tố Trung Quốc: Sự trỗi dậy của Trung Quốc là nhân tố tác động hai chiều phức tạp. Singapore có hơn 3/4 dân số là người gốc Hoa. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Singapore và Trung Quốc tăng từ 2,9 tỷ USD năm 1990 lên 75 tỷ USD năm 2010; đến năm 2008, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Singapore. Singapore chủ trương duy trì thế cân bằng quyền lực giữa các nước lớn, không chọn phe và không trở thành đồng minh chính thức của Mỹ để tránh đối đầu với Trung Quốc. Tuy nhiên, trong tương quan chiến lược, Singapore coi Hoa Kỳ là "bá quyền hiền lành" (benign global power) và là đối trọng quân sự cần thiết để ngăn chặn sự chi phối của Trung Quốc tại khu vực.

Tình hình hai nước:

  • Singapore: Đảo quốc có quy mô dân số hơn 3 triệu người năm 1990. Tỷ lệ lạm phát duy trì dưới 4%, dự trữ ngoại tệ đạt 201 tỷ SGD năm 2006. Singapore áp dụng chính sách thu hút các công ty đa quốc gia (MNC), đẩy mạnh công nghiệp tái xuất (lọc hóa dầu, điện tử, bán dẫn), nâng quỹ R&D lên 2% GDP vào năm 1995 (kế hoạch do Phó Thủ tướng Lý Hiển Long công bố tháng 9/1991). Về chính trị, Đảng Hành động Nhân dân (PAP) cầm quyền liên tục từ năm 1965 tạo ra sự ổn định nhưng chịu sự chỉ trích từ phương Tây về quyền tự do chính trị. Quyết định chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ hành chính giúp Singapore hội nhập quốc tế thuận lợi. Về an ninh, học thuyết quân sự của Singapore tập trung vào khả năng tự vệ và "vay mượn sức mạnh" từ bên ngoài.
  • Hoa Kỳ: Siêu cường kinh tế và quân sự số một thế giới. Năm 2008, GDP của Hoa Kỳ đạt 14.266 nghìn tỷ USD, GDP bình quân đầu người là 47.700 USD; dân số 302 triệu người (dưới 5% dân số thế giới nhưng tạo ra 20–30% GDP toàn cầu). Các công ty xuyên quốc gia (TNC) của Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng lớn: năm 2003, TNC đóng góp 57% (412 tỷ USD) tổng kim ngạch xuất khẩu và 37% (463,3 tỷ USD) tổng kim ngạch nhập khẩu. Chi tiêu quốc phòng năm 2003 chiếm 40% chi tiêu quân sự toàn cầu. Về chính trị, Hoa Kỳ vận hành theo thể chế tam quyền phân lập và đề cao các giá trị tự do cá nhân, dân chủ, nhân quyền.

Bảng 1 trong luận án tổng hợp so sánh các chỉ số cơ bản giữa hai quốc gia:

Tiêu chí Cộng hòa Singapore Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
Dân số (năm 1990) Hơn 3 triệu người Hơn 250 triệu người
Diện tích lãnh thổ Khoảng 700 km² Khoảng 9,8 triệu km²
Thể chế chính trị Dân chủ nghị viện, Đảng PAP chiếm ưu thế áp đảo Cộng hòa liên bang, tam quyền phân lập, lưỡng đảng
Đặc điểm quân sự Quy mô nhỏ, tự vệ chiều sâu, "vay mượn sức mạnh" Siêu cường quân sự toàn cầu, chi tiêu chiếm 40% thế giới (2003)
Trọng tâm kinh tế Dựa vào MNC, công nghiệp tái xuất, dịch vụ tài chính, R&D Kinh tế thị trường lớn nhất thế giới, xuất khẩu vốn và công nghệ cao

Chương 3. Những nội dung chủ yếu trong quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012

Chương này trình bày chi tiết diễn biến hợp tác song phương trên ba lĩnh vực:

Chính trị – ngoại giao: Hai nước duy trì các chuyến thăm cấp cao thường xuyên của lãnh đạo cấp nhà nước (được tổng hợp trong Bảng 2 của luận án). Năm 2012, hai bên nâng tầm cơ chế tham vấn với Đối thoại Đối tác Chiến lược Hoa Kỳ – Singapore (SPD) thường niên. Trong tiến trình ngoại giao, hai bên nảy sinh bất đồng về vấn đề nhân quyền và quản lý xã hội, tiêu biểu là vụ việc Michael Fay năm 1994 (công dân Mỹ bị kết án phạt roi tại Singapore vì tội phá hoại tài sản công cộng dù Tổng thống Bill Clinton can thiệp), kéo theo những tranh luận về "giá trị châu Á" và mô hình pháp trị. Tuy nhiên, hai chính phủ đã xử lý bất đồng trên tinh thần thực dụng, không để mâu thuẫn cản trở các lợi ích an ninh và kinh tế cốt lõi.

An ninh – quốc phòng: Đây là trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Năm 1990, hai nước ký Biên bản ghi nhớ (MOU 1990) cho phép quân đội Hoa Kỳ sử dụng các cơ sở hải quân và không quân tại Singapore, bù đắp sự rút lui của quân đội Mỹ khỏi các căn cứ tại Philippines. Hai bên tiếp tục ký Nghị định thư sửa đổi (AMOU) và Thỏa thuận hợp tác quốc phòng nâng cao (DCA). Năm 2005, hai nước ký Hiệp định khung chiến lược (SFA), công nhận Singapore là "Đối tác Hợp tác An ninh Lớn" (Major Security Cooperation Partner) của Hoa Kỳ. Trung bình mỗi năm có hơn 100 tàu hải quân Mỹ ghé các cảng của Singapore, bao gồm tàu sân bay cập cảng Changi. Quân đội Singapore thành lập các trung tâm huấn luyện tại Mỹ (được hệ thống trong Bảng 3 của luận án). Trong cuộc chiến chống khủng bố, Singapore tham gia các sáng kiến do Mỹ khởi xướng gồm Sáng kiến An ninh Container (CSI), Sáng kiến An ninh Phổ biến (PSI), Sáng kiến An ninh Hàng hải Khu vực (RMSI) và duy trì tập trận chung thường niên CARAT.

Kinh tế: Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ – Singapore (USSFTA) được khởi động đàm phán năm 2000, ký kết năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004, trở thành hiệp định thương mại tự do đầu tiên của Hoa Kỳ với một quốc gia châu Á. Thương mại hàng hóa hai chiều tăng trưởng liên tục (số liệu tại các Bảng 4, 5, 6, 7). Về đầu tư, Hoa Kỳ trở thành một trong những quốc gia đầu tư FDI lớn nhất vào Singapore, tập trung vào lĩnh vực chế tạo công nghệ cao, điện tử, hóa chất và dịch vụ tài chính (Bảng 8, 9, 10). Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp Singapore mở rộng nguồn vốn đầu tư sang Hoa Kỳ (Bảng 11, 12).

Chương 4. Một số nhận xét, đánh giá về quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012 và một số vấn đề gợi mở cho Việt Nam

Chương 4 đúc kết các đánh giá khoa học về mối quan hệ song phương:

Thành tựu và hạn chế:

  • Thành tựu: Xây dựng mối quan hệ đối tác ổn định, bền vững trên cả ba trụ cột chính trị, an ninh và kinh tế; tạo điều kiện cho Singapore củng cố không gian an ninh và phát triển kinh tế tri thức; hỗ trợ Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện chiến lược tại khu vực Đông Nam Á.
  • Hạn chế: Sự bất cân xứng về quy mô và vị thế giữa một nước nhỏ và một siêu cường; tồn tại khoảng cách về quan điểm dân chủ, nhân quyền; những áp lực phát sinh từ sự cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Đặc điểm của mối quan hệ:

  • Quan hệ đối tác an ninh chiến lược nhưng không phải đồng minh chính thức ("Security partners, not allies").
  • Mối quan hệ mang tính thực dụng cao, vận hành trên cơ sở song trùng lợi ích chiến lược thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hệ tư tưởng.
  • Quan hệ bất đối xứng nhưng có tính tương hỗ sâu sắc về lợi ích địa chính trị.
  • Dấu ấn đậm nét của các nhà lãnh đạo quốc gia, đặc biệt là vai trò cá nhân và tầm nhìn chiến lược của Lý Quang Diệu.

Tác động của mối quan hệ:

  • Đối với Singapore: Đảm bảo môi trường hòa bình, an ninh cho sự sinh tồn của đất nước; mở rộng tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và thị trường Hoa Kỳ; nâng cao vị thế và tiếng nói trên trường quốc tế.
  • Đối với Hoa Kỳ: Cung cấp điểm tựa hậu cần quân sự kiểm soát các tuyến hàng hải qua eo biển Malacca; duy trì sự hiện diện quân sự trực tiếp tại Đông Nam Á; thúc đẩy liên kết kinh tế thương mại tự do trong khu vực.
  • Đối với khu vực Đông Nam Á: Góp phần tạo lập thế cân bằng quyền lực nước lớn, ngăn ngừa xung đột quân sự quy mô lớn; tuy nhiên cũng đặt ra thách thức đối với nguyên tắc trung lập và sự đồng thuận của khối ASEAN trước cạnh tranh Mỹ – Trung.

Một số vấn đề gợi mở cho Việt Nam: Tác giả đề xuất các gợi mở cho chính sách đối ngoại của Việt Nam: kiên định đường lối độc lập, tự chủ kết hợp đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; khéo léo đan xen lợi ích với các nước lớn; vận dụng chính sách cân bằng chiến lược linh hoạt, không chọn bên; đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, tận dụng vốn và công nghệ cao từ Hoa Kỳ; đầu tư cho giáo dục và nguồn nhân lực, xem tiếng Anh là công cụ hội nhập quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học:

  • Luận án là công trình chuyên khảo lịch sử nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và độc lập về quan hệ Singapore – Hoa Kỳ suốt giai đoạn 1990 – 2012 tại Việt Nam.
  • Dựa trên nguồn tư liệu đa dạng, luận án làm sáng tỏ tính chất đặc thù của mối quan hệ giữa một đảo quốc nhỏ và một siêu cường toàn cầu: quan hệ hợp tác chiến lược, gắn kết an ninh sâu sắc nhưng không ký hiệp ước liên minh quân sự chính thức.
  • Luận án phân tích rõ cơ chế vận hành của chính sách đối ngoại thực dụng, kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực trong an ninh và chủ nghĩa tự do trong hội nhập kinh tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp các luận cứ khoa học và cứ liệu lịch sử cho các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong việc triển khai quan hệ với hai đối tác quan trọng là Hoa Kỳ và Singapore.
  • Gợi mở các bài học kinh nghiệm về việc xử lý quan hệ với các nước lớn, quản lý bất đồng về giá trị, duy trì cân bằng quyền lực khu vực và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các môn học Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử quan hệ quốc tế, Quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khuôn khổ quan hệ song phương cấp nhà nước, do đó các mối liên kết đa phương (trong khuôn khổ ASEAN, ARF, APEC) chỉ được khảo sát như những yếu tố bối cảnh tác động, chưa đi sâu phân tích toàn diện.
  • Nguồn tư liệu lưu trữ sơ cấp từ cơ quan ngoại giao hai nước có những giới hạn tiếp cận nhất định đối với các hồ sơ an ninh mật thời kỳ gần.
  • Luận án dừng mốc thời gian nghiên cứu ở năm 2012, chưa bao quát các biến chuyển địa chính trị mới dưới các nhiệm kỳ Tổng thống Hoa Kỳ tiếp theo.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng giai đoạn nghiên cứu từ năm 2012 đến nay, đặc biệt là giai đoạn Hoa Kỳ triển khai Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP).
  • Nghiên cứu sâu hơn về tác động của cạnh tranh công nghệ và các cơ chế hợp tác mới đối với sự điều chỉnh chiến lược của Singapore trong quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế, Ngoại giao học, Châu Á học và Hoa Kỳ học. Phần tổng quan tài liệu (Chương 1) và nội dung đàm phán hiệp định USSFTA, SFA 2005 (Chương 3) là nguồn dữ liệu thực chứng hữu ích.
  • Cán bộ làm công tác nghiên cứu chiến lược, tham mưu và hoạch định chính sách đối ngoại tại các cơ quan nhà nước. Chương 4 với các phân tích về nghệ thuật cân bằng nước lớn và những gợi mở chính sách cho Việt Nam cung cấp nhiều góc nhìn thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Singapore và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ an ninh sâu sắc nhưng không ký kết hiệp ước đồng minh chính thức? Văn bản luận án nêu rõ Singapore nhất quán chủ trương duy trì chính sách an ninh độc lập và cân bằng quyền lực, không trở thành đồng minh chính thức để tránh gây nghi ngại cho các quốc gia láng giềng Đông Nam Á (như Malaysia, Indonesia) và không biến mình thành mục tiêu đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Singapore chọn cơ chế đối tác an ninh lớn ("Security partners, not allies") thông qua MOU 1990 và SFA 2005 nhằm "vay mượn sức mạnh" quân sự của Mỹ mà vẫn giữ được sự linh hoạt ngoại giao.

2. Căn cứ nào xác định mốc thời gian bắt đầu năm 1990 và kết thúc năm 2012 của đề tài? Năm 1990 là thời điểm Chiến tranh Lạnh đi đến hồi kết và tại Singapore diễn ra cuộc chuyển giao quyền lực lần thứ nhất khi Thủ tướng Lý Quang Diệu từ chức ngày 28/11/1990 sau 30 năm cầm quyền, ông Goh Chok Tong lên kế nhiệm. Năm 2012 là năm kết thúc nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và là năm hai nước lần đầu tiên tổ chức Đối thoại Đối tác Chiến lược Hoa Kỳ – Singapore (SPD) cấp bộ trưởng, đánh dấu một bước chuyển mới trong quan hệ song phương.

3. Vụ việc Michael Fay năm 1994 phản ánh mâu thuẫn gì trong quan hệ hai nước? Vụ việc Michael Fay (công dân Mỹ bị kết án phạt roi tại Singapore vì hành vi phá hoại tài sản công cộng) phản ánh sự khác biệt về ý thức hệ giữa văn hóa phương Tây (đề cao quyền tự do cá nhân, nhân quyền) và mô hình quản trị của Singapore (nhấn mạnh pháp trị nghiêm minh, trật tự xã hội và các giá trị châu Á). Mặc dù Tổng thống Bill Clinton đích thân gửi thư can thiệp, Singapore vẫn thực thi bản án; hai chính phủ sau đó đã giới hạn vụ việc ở phạm vi pháp lý, không để ảnh hưởng tiêu cực đến các cam kết an ninh và kinh tế chung.

4. Hiệp định Thương mại Tự do Hoa Kỳ – Singapore (USSFTA) có ý nghĩa như thế nào trong quan hệ kinh tế song phương? USSFTA ký kết năm 2003 và có hiệu lực năm 2004, là hiệp định thương mại tự do đầu tiên của Hoa Kỳ với một quốc gia châu Á. Hiệp định giúp xóa bỏ hàng rào thuế quan, thiết lập chuẩn mực cao về bảo hộ sở hữu trí tuệ, dịch vụ tài chính, thương mại điện tử, qua đó thúc đẩy kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng và thu hút làn sóng đầu tư trực tiếp lớn từ các tập đoàn công nghệ, hóa chất Hoa Kỳ vào Singapore.

Kết luận

Luận án "Quan hệ Singapore – Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2012" của tác giả Võ Thị Kim Thảo đã tái hiện tiến trình 22 năm phát triển của quan hệ song phương trên các lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế. Công trình khẳng định bản chất thực dụng và sự song trùng lợi ích chiến lược giữa một siêu cường toàn cầu và một đảo quốc có vị trí địa chiến lược tại Đông Nam Á. Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử xác thực, góp phần làm rõ chính sách cân bằng nước lớn của Singapore và đề xuất những bài học tham khảo đối với công tác đối ngoại của Việt Nam.