Tổng quan luận án

Thông tin học thuật Chi tiết
Tên đề tài Sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Trịnh Thị Nhài
Người hướng dẫn khoa học 1. TS. Nguyễn Trọng Nghĩa
2. TS. Phú Văn Hẳn
Hội đồng phản biện độc lập 1. TS. Ngô Hữu Thảo
2. TS. Trần Quang Thái
Hội đồng phản biện 1. PGS.TS. Đinh Ngọc Thạch
2. TS. Hà Trọng Thà
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành / Mã ngành Triết học / 9229001
Năm bảo vệ 2022

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Gia đình là hạt nhân của xã hội, tham gia vào mọi quá trình từ sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, tái tạo con người cho đến việc giáo dục, bồi dưỡng nhân cách và xác lập các quan hệ sở hữu. Người Chăm ở Việt Nam có lịch sử lâu đời gắn liền với Vương quốc Champa cổ đại, trong đó cộng đồng người Chăm theo đạo Bàlamôn (tập trung chủ yếu tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận với hơn 100 nghìn người vào năm 2019, chiếm gần 60% tổng dân số người Chăm tại Việt Nam) là một trong số ít các tộc người còn bảo lưu đậm nét chế độ mẫu hệ truyền thống.

Tuy nhiên, trước tác động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cấu trúc gia đình mẫu hệ của người Chăm Bàlamôn đang đứng trước những biến đổi mạnh mẽ. Mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ dần chuyển dịch sang gia đình hạt nhân, kéo theo những chuyển biến phức tạp về quan hệ huyết thống, phân công lao động và quyền lực gia đình. Tác giả chỉ ra rằng, việc nghiên cứu toàn diện sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn dưới góc độ triết học xã hội vẫn là một khoảng trống khoa học cần được làm sáng tỏ nhằm cung cấp luận cứ cho việc xây dựng gia đình bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực trạng biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của quá trình biến đổi này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận về gia đình, cấu trúc gia đình và cấu trúc gia đình truyền thống của người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam.
    2. Thứ hai: Trình bày và phân tích thực trạng, nguyên nhân biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay.
    3. Thứ ba: Đề xuất các phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực trong sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào ba phương diện cấu thành cấu trúc gia đình:
    • Thành viên tạo nên gia đình (quy mô, thế hệ, số con).
    • Các mối quan hệ bên trong gia đình (quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái, dòng tộc).
    • Vị trí, vai trò của từng thành viên trong mối quan hệ với các thành viên khác (quyền quyết định kinh tế, tài sản, hôn nhân).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình biến đổi từ đầu thế kỷ XXI đến nay; tư liệu điều tra xã hội học thực địa bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu được thu thập từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả hệ thống hóa thành ba hướng nghiên cứu chính:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chi tiết các công trình theo từng hướng nghiên cứu

Hướng thứ nhất: Nghiên cứu chung về gia đình và biến đổi cấu trúc gia đình

  • Yvonne Castellan (2002) trong Gia đình (Nguyễn Thu Hồng & Ngô Dư dịch, Nxb. Thế Giới) phân tích các kiểu hình gia đình trên thế giới và làm rõ đặc điểm của gia đình hạt nhân trong xã hội công nghiệp gắn với sự phân công lao động giữa cha và mẹ.
  • William Josiah Goode (1963) với World revolution and family patterns (Nxb. Free Press of Glencoe) chỉ ra tính đa dạng của các mô hình gia đình dưới áp lực của đô thị hóa và tư tưởng dân chủ.
  • David H. Fine và tập thể tác giả (2000) trong Handbook of Family Diversity (Nxb. Oxford University Press) trình bày sự đa dạng nhân khẩu học và các dạng gia đình phi truyền thống.
  • A. Robertson (1991) trong Beyond the family: the social organization of human reproduction (Nxb. Đại học California) đưa ra khái niệm "sức ép tái sinh sản" (reproductive pressures) và xem gia đình như một tổ chức xã hội động trong mối tương quan với kinh tế - chính trị.
  • Carolyn Pape Cowan và Philip A. Cowan (1992) với When partners become parents (Nxb. Basic Books) phân tích biến đổi tâm lý và phân công lao động theo giới khi các cặp vợ chồng bước vào giai đoạn làm cha mẹ.
  • Elisabetta Ruspini (2013) trong Diversity in family life (Nxb. Chính trị, Anh) nghiên cứu sự sụt giảm của gia đình truyền thống và sự gia tăng quyền tự do lựa chọn cá nhân.
  • Lee-Jay Cho và Moto Yada (1996) trong Tradition and Change in the Asian Family (Nxb. Đại học Nihon) khảo sát sự biến đổi của gia đình châu Á nửa sau thế kỷ XX dưới tác động của công nghệ và di cư nông thôn - đô thị.
  • Alvin Toffler (1991, 1992) qua Cú sốc tương laiLàn sóng thứ ba (Nguyễn Văn Trung dịch, Nxb. Thông tin lý luận) dự báo sự tan rã của gia đình hạt nhân công nghiệp và sự xuất hiện của các hình thức gia đình phi hạt nhân, "ngôi nhà điện tử".
  • Tập thể tác giả Trung Quốc (1998) trong Dự báo thế kỷ XXI (Xuân Du, Trần Thanh, Nguyễn Thanh Bích, Trần Đăng Thao dịch, Nxb. Thống kê) phân tích xu hướng kết hôn muộn, giảm quy mô hộ và thay đổi chức năng chăm sóc người già.
  • Charles L. Jones, Lorne Tepperman và Susannah J. Wilson (2002) với Tương lai của gia đình (Vũ Quang Hà dịch, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội) phân loại các mô hình gia đình mới như gia đình đoàn thể, tập hợp, ráp nối, chu kỳ.
  • Các học giả Việt Nam: Trần Đình Hượu (1995, Đến hiện đại từ truyền thống), Lê Thi (2002, Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới), Vũ Ngọc Khánh (2007, Văn hóa gia đình Việt Nam), Lê Như Hoa (2001, Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em), Tát Nhật Na (2005, Gia phong thời hiện đại), Nguyễn Hữu Minh (chủ biên, 2014, Gia đình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh). Các công trình này phân tích chuyển biến từ gia đình truyền thống sang hiện đại, chức năng giáo dục, phân công lao động và sự biến đổi hệ giá trị gia đình.

Hướng thứ hai: Nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội và nghề truyền thống người Chăm

  • Phan Xuân Biên (chủ biên, 1991) trong Văn hóa Chăm (Nxb. Khoa học Xã hội) phác thảo diện mạo văn hóa và các nghi lễ vòng đời người Chăm.
  • Hoàng Nam (1998) trong Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người, văn hóa Việt Nam (Nxb. Văn hóa Dân tộc) xếp dân tộc Chăm vào nhóm văn hóa ngôn ngữ Mã Lai - Đa đảo mang đặc trưng mẫu hệ.
  • Phan Đăng Nhật (chủ biên, 2003) với Luật tục Chăm và luật tục Raglai (Nxb. Văn hoá Dân tộc) khảo sát 20 vấn đề ứng xử cộng đồng và các nguyên tắc hôn nhân mẫu hệ truyền thống.
  • Inrasara (2003) trong Văn hoá - xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại (Nxb. Văn học) nêu triết lý sống và đề xuất mô hình gia đình Chăm 5 thành tố: Truyền thống, tri thức, thích nghi, tiền, tiên tiến.
  • Nguyễn Văn Tỷ (2010) trong Đời sống văn hoá - xã hội người Chăm ở Việt Nam (Nxb. Lao động) khảo cứu về địa danh, dòng họ và tôn giáo Chăm.
  • Văn Món (2001) với Nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bàu Trúc - Ninh Thuận (Nxb. Văn hóa Thông tin) và Sakaya (2012) với Nghề dệt cổ truyền người Chăm làng Mỹ Nghiệp - Ninh Thuận (Nxb. Tri Thức) phân tích quy trình sản xuất và sự thay đổi phân công lao động theo giới trong các làng nghề thủ công.
  • Ngô Thị Chính và Tạ Long (2007) trong Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận (Nxb. Khoa học Xã hội) làm rõ mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, tín ngưỡng và tổ chức đời sống xã hội.

Hướng thứ ba: Nghiên cứu chuyên biệt về gia đình Chăm và Chăm Bàlamôn

  • Nguyễn Khắc Ngữ (1967) trong Mẫu hệ Chàm (Nxb. Trình bày) phân tích nguồn gốc, bản chất của chế độ mẫu hệ, nguyên tắc tính dòng họ và quyền thừa kế tài sản theo dòng mẹ.
  • Phan Quốc Anh (2006) với Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận (Nxb. Văn hóa Dân tộc) đi sâu vào thế giới quan, tục cư trú sau hôn nhân và lễ nhập kút theo dòng họ mẹ của người Chăm Bàlamôn (Chăm Ahiêr).
  • Bá Trung Phụ (2001) trong Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam (Nxb. Văn hóa Dân tộc) khảo sát sự biến đổi quy mô gia đình, hôn nhân khác tôn giáo và sự suy giảm tục kết hôn "con cô, con cậu" từ sau năm 1975.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Mặc dù các công trình đi trước đã tiếp cận văn hóa Chăm và chế độ mẫu hệ từ góc độ dân tộc học, văn hóa học hoặc xã hội học mô tả, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn tại Ninh Thuận và Bình Thuận dưới góc độ triết học xã hội, kết hợp giữa lý luận hình thái kinh tế - xã hội với khảo sát thực nghiệm định lượng và định tính.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Hệ tư tưởng chủ đạo: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hôn nhân, gia đình và công tác dân tộc thiểu số.
  • Quan điểm kinh điển về gia đình: Luận án dựa trên luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước (1884), khẳng định gia đình là một phạm trù lịch sử phản ánh trình độ phát triển của phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
  • Khung khái niệm cấu trúc gia đình: Tác giả định nghĩa cấu trúc gia đình là toàn bộ các mối quan hệ bên trong giữa các thành viên tạo nên gia đình, được phân tích qua ba trục:
    1. Quy mô và thành phần thế hệ: Số lượng thành viên, số thế hệ cùng chung sống, số con.
    2. Mối quan hệ nội bộ: Quan hệ vợ - chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ với họ hàng nội - ngoại.
    3. Vị trí và vai trò quyền lực: Quyền sở hữu tài sản, quyền quyết định sản xuất kinh doanh, quyền mua bán tài sản lớn, quyền định đoạt hôn nhân của con cái.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, lấy phương pháp luận triết học xã hội làm chủ đạo kết hợp với điều tra xã hội học thực nghiệm:

  • Phương pháp phân tích lý thuyết: Phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, lịch sử và logic, hệ thống và cấu trúc, đối chiếu và so sánh.
  • Phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm:
    • Điều tra định lượng: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc thu thập thông tin về nhân khẩu học, số con lý tưởng, quyền ra quyết định kinh tế và hôn nhân (thực hiện từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018 tại Ninh Thuận và Bình Thuận).
    • Điều tra định tính: Phỏng vấn sâu các đối tượng là trí thức Chăm, chức sắc tôn giáo, cán bộ địa phương và các thế hệ trong gia đình người Chăm Bàlamôn; lập biên bản gỡ băng phỏng vấn.

Nguồn tư liệu và cấu trúc phụ lục

Tư liệu thực nghiệm của luận án được trình bày minh bạch thông qua hệ thống phụ lục:

  • Phụ lục 1 (tr. 202): Mô tả cách thức điều tra xã hội học.
  • Phụ lục 2 (tr. 203): Phiếu thu thập thông tin định lượng.
  • Phụ lục 3 (tr. 209): Báo cáo xử lý, phân tích số liệu điều tra định lượng.
  • Phụ lục 4 (tr. 224): Câu hỏi phỏng vấn sâu.
  • Phụ lục 5 (tr. 226): Biên bản gỡ băng các cuộc phỏng vấn sâu.

Nội dung chính theo từng chương

Danh mục bảng và biểu đồ trong luận án

Ký hiệu Tên bảng / biểu đồ Trang trong văn bản
Bảng 2.1 Bảng mô tả các giá trị thống kê về tổng số thành viên và số con trong gia đình người Chăm Bàlamôn 85
Bảng 2.2 Quan niệm số con lý tưởng của một cặp vợ - chồng 130
Biểu đồ 2.1 Số thế hệ trong gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay 88
Biểu đồ 2.2 Quyền quyết định mua những thứ đắt tiền (nhà, đất, xe máy) 95
Biểu đồ 2.3 Quyền quyết định bán những thứ đắt tiền (nhà, đất, xe máy) 96
Biểu đồ 2.4 Quyền quyết định công việc sản xuất, kinh doanh buôn bán 97
Biểu đồ 2.5 Quyền tham gia quyết định dựng vợ gả chồng cho con cái 97

Chương 1: Lý luận chung về gia đình, cấu trúc gia đình và cấu trúc gia đình truyền thống của người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam

Chương 1 (từ trang 31 đến trang 74) tập trung hệ thống hóa các quan niệm triết học về gia đình và phân tích các đặc trưng cốt lõi của cấu trúc gia đình truyền thống người Chăm Bàlamôn:

1.1. Khái niệm gia đình và cấu trúc gia đình

  • Tổng thuật lịch sử tư tưởng triết học về gia đình:
    • Phương Đông cổ - trung đại: Nho giáo coi gia đình là nền tảng của thiên hạ ("Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia, gia chi bản tại thân" - Mạnh Tử), thiết lập trật tự Tam cương (quân - thần, phụ - tử, phu - thê) và Ngũ luân. Gia đình Nho giáo mang tính chất phụ quyền chuyên chế tuyệt đối, người đàn ông làm chủ, đòi hỏi con cái phục tùng cha mẹ, vợ phục tùng chồng.
    • Phương Tây: Socrates xem quản lý gia đình là thước đo quản lý nhà nước; Plato đề xuất mô hình cộng đồng xóa bỏ gia đình riêng tư và tư hữu; Aristotle xem gia đình là tế bào tự nhiên hình thành nên nhà nước. Thời kỳ trung cổ chịu ảnh hưởng của thuyết nam quyền Công giáo. Thời cận đại, Montesquieu, Rousseau đưa ra khế ước xã hội phân định quyền lực gia đình; Hegel gắn kết gia đình với nhà nước; phong trào nữ quyền thế kỷ XIX - XX phê phán sự áp bức giới trong gia đình phụ quyền.
    • Chủ nghĩa Mác - Lênin: Ph. Ăngghen chứng minh thị tộc mẫu hệ xuất hiện trước thị tộc phụ hệ, chế độ một vợ một chồng phụ quyền gắn liền với sự xuất hiện của chế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp.
  • Định nghĩa cấu trúc gia đình: Tác giả xác lập định nghĩa gia đình trên cả bình diện vĩ mô (thiết chế xã hội thực hiện chức năng tái sản xuất con người, kinh tế, giáo dục) và vi mô (nhóm người gắn kết qua hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có ngân sách chung). Cấu trúc gia đình là tổng thể các mối quan hệ qua lại giữa các thành viên, quy định vị trí và vai trò của từng cá nhân.

1.2. Cấu trúc gia đình truyền thống của người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam

  • Điều kiện hình thành: Bắt nguồn từ lịch sử phát triển của Vương quốc Champa cổ đại, kết hợp với tôn giáo Bàlamôn du nhập từ Ấn Độ đã được bản địa hóa để tương thích với tín ngưỡng dân gian và chế độ mẫu hệ bản địa.
  • Ba đặc trưng cấu trúc truyền thống:
    1. Tính dòng mẹ và quyền thừa kế: Con cái sinh ra mang họ mẹ; tài sản và tư liệu sản xuất gia bảo được trao truyền từ mẹ sang con gái (đặc biệt là con gái út).
    2. Cư trú sau hôn nhân: Người đàn ông sau khi kết hôn bắt buộc phải về cư trú tại nhà vợ (ở rể); con gái là người chủ động đi hỏi chồng và cưới chồng về nhà mình.
    3. Gắn kết tâm linh dòng tộc: Sự ràng buộc chặt chẽ thông qua hệ thống nghi lễ vòng đời và tục nhập Kút (nghĩa địa mẫu hệ lưu giữ xương trán của những người cùng dòng họ mẹ sau khi hỏa thiêu).
  • Vai trò lịch sử: Cấu trúc mẫu hệ truyền thống giữ vai trò duy trì sự cố kết cộng đồng tộc người, bảo lưu ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội và phong tục tập quán Chăm qua nhiều thăng trầm lịch sử.

Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 (từ trang 75 đến trang 125) trình bày các dữ liệu thực nghiệm về thực trạng chuyển dịch cấu trúc gia đình Chăm Bàlamôn tại Ninh Thuận và Bình Thuận:

2.1. Thực trạng biến đổi cấu trúc gia đình

  • Biến đổi về quy mô và số thế hệ: Tỷ lệ gia đình mở rộng (tam, tứ đại đồng đường) có xu hướng giảm, nhường chỗ cho sự gia tăng nhanh chóng của gia đình hạt nhân (hai thế hệ gồm cha mẹ và con cái). Dữ liệu tại Bảng 2.1 (tr. 85), Bảng 2.2 (tr. 130) và Biểu đồ 2.1 (tr. 88) phản ánh rõ nét sự thu nhỏ số lượng thành viên và số con bình quân trong mỗi hộ gia đình so với giai đoạn truyền thống.
  • Biến đổi về quyền lực và phân công lao động:
    • Quyền quyết định tài sản lớn (mua/bán nhà, đất, xe máy): Biểu đồ 2.2 (tr. 95) và Biểu đồ 2.3 (tr. 96) cho thấy sự dịch chuyển từ việc người phụ nữ nắm quyền định đoạt tuyệt đối sang cơ chế vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận dân chủ.
    • Quyền quyết định sản xuất kinh doanh: Dữ liệu tại Biểu đồ 2.4 (tr. 97) phản ánh vai trò kinh tế ngày càng gia tăng của người đàn ông trong gia đình khi họ tham gia vào các hoạt động thị trường, dịch vụ và phi nông nghiệp.
    • Hôn nhân và gia đình: Biểu đồ 2.5 (tr. 97) thể hiện sự thay đổi trong việc dựng vợ gả chồng cho con cái; quyền tự do định đoạt của con cái tăng lên, giảm sự can thiệp áp đặt của dòng họ mẹ; xuất hiện các trường hợp cư trú linh hoạt (ở riêng hoặc ở nhà chồng) thay vì bắt buộc ở nhà vợ như trước.
  • Đánh giá mặt tích cực và tiêu cực:
    • Mặt tích cực: Nâng cao tính tự chủ, bình đẳng giới; giải phóng năng lực lao động của nam giới; tạo sự linh hoạt thích ứng với nền kinh tế thị trường; cải thiện mức sống và điều kiện giáo dục con cái.
    • Mặt tiêu cực: Nguy cơ lỏng lẻo mối quan hệ dòng họ mẹ; suy giảm sự gắn kết giữa các thế hệ; nguy cơ mai một các giá trị đạo đức truyền thống và các chuẩn mực luân lý cổ truyền; phát sinh mâu thuẫn gia đình hiện đại.

2.2. Nguyên nhân của sự biến đổi

  • Nguyên nhân khách quan:
    • Tác động của nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.
    • Sự phát triển của khoa học, công nghệ thông tin và truyền thông.
    • Chính sách kinh tế - xã hội, pháp luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước Việt Nam.
  • Nguyên nhân chủ quan:
    • Sự thay đổi trong nhận thức, trình độ học vấn và lối sống của thế hệ trẻ người Chăm.
    • Nhu cầu khẳng định vị thế cá nhân của người đàn ông và sự chuyển dịch trong quan niệm về giá trị cuộc sống, hôn nhân của các cặp vợ chồng.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 (từ trang 126 đến trang 181) xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp ứng dụng:

3.1. Hai phương hướng cơ bản

  1. Kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống người Chăm Bàlamôn, đồng thời tiếp thu những giá trị tiến bộ của thời đại về gia đình: Bảo tồn các thuần phong mỹ tục, tính cố kết dòng tộc mẫu hệ, sự hiếu thảo và vai trò gắn kết của phụ nữ; tiếp thu quyền bình đẳng giới hiện đại, tự do hôn nhân và mô hình gia đình tiến bộ.
  2. Gắn kết giá trị truyền thống, tiếp thu những giá trị tiến bộ của thời đại về gia đình với phát triển kinh tế, xã hội và cộng đồng người Chăm Bàlamôn: Lồng ghép xây dựng gia đình văn hóa với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, phát triển làng nghề thủ công truyền thống (gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp) và nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI).

3.2. Ba nhóm giải pháp cụ thể

  • Nhóm giải pháp về nhận thức: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đồng bào Chăm Bàlamôn về Luật Hôn nhân và Gia đình, bình đẳng giới; tôn vinh các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, loại bỏ các hủ tục rườm rà, tốn kém trong nghi lễ vòng đời.
  • Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, chính sách dân tộc và tôn giáo đặc thù cho vùng đồng bào Chăm tại Ninh Thuận và Bình Thuận; hỗ trợ vốn vay sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm tại chỗ cho thanh niên nông thôn.
  • Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo (tr. 178): Nâng cao dân trí, phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, dạy song ngữ (tiếng Việt và chữ Chăm); đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, trang bị kiến thức tiền hôn nhân và kỹ năng sống cho thanh niên Chăm.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên công bố của tác giả tại phần Cái mới của luận án, công trình đạt được hai đóng góp cốt lõi:

ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
  1. Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận cơ bản về cấu trúc gia đình và sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn theo ba phương diện: thành viên tạo nên gia đình, các mối quan hệ bên trong gia đình, và vị trí/vai trò của từng thành viên trong mối quan hệ với các thành viên khác dưới lăng kính triết học xã hội.
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án bước đầu đánh giá toàn diện thực trạng và nguyên nhân của sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn thông qua dữ liệu điều tra xã hội học thực tế; đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp khả thi nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam nói chung, tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận nói riêng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định, luận án chỉ tập trung khảo sát cộng đồng người Chăm theo đạo Bàlamôn tại hai tỉnh duyên hải Nam Trung bộ là Ninh Thuận và Bình Thuận; chưa mở rộng so sánh toàn diện với các nhóm cộng đồng người Chăm khác tại Tây Nam bộ (An Giang) hay Đông Nam bộ (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh) - nơi có sự khác biệt về nhánh tôn giáo (Chăm Hồi giáo Islam, Chăm Bani) và điều kiện kinh tế - xã hội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh cấu trúc gia đình giữa nhóm người Chăm Bàlamôn (Chăm Ahiêr) với Chăm Hồi giáo (Chăm Awal / Chăm Islam) và các tộc người mẫu hệ khác cùng ngữ hệ Mã Lai - Đa đảo (như Raglai, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai) để làm rõ hơn tính quy luật và đặc thù của chế độ mẫu hệ ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích về phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Triết học xã hội và Xã hội học thực nghiệm, cung cấp khung phân tích về cấu trúc gia đình tộc người và mẫu phiếu điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu (Phụ lục 1-5).
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Công trình phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề thuộc Triết học xã hội, Triết học văn hóa, Triết học tôn giáo, Xã hội học gia đình và Dân tộc học.
  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho Ban Dân tộc, Ủy ban Dân tộc, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Hội Liên hiệp Phụ nữ tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận trong việc xây dựng chính sách dân tộc, gia đình văn hóa và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Chăm.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc gia đình truyền thống của người Chăm Bàlamôn có những đặc trưng cơ bản nào?

Cấu trúc gia đình truyền thống của người Chăm Bàlamôn mang đặc trưng của chế độ mẫu hệ, bao gồm ba điểm cốt lõi:

  1. Quan hệ huyết thống và quyền thừa kế tài sản tính theo dòng họ mẹ (con gái mang họ mẹ và được thừa kế tài sản, đặc biệt là con gái út).
  2. Quy tắc cư trú sau hôn nhân bắt buộc người đàn ông về sống tại nhà vợ (con gái chủ động đi hỏi chồng và cưới chồng).
  3. Sự cố kết dòng tộc qua hệ thống nghi lễ vòng đời và tục thờ cúng tổ tiên tại nghĩa địa Kút theo dòng mẹ.

2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập ở đâu và vào thời gian nào?

Dữ liệu khảo sát xã hội học (bảng hỏi định lượng và phỏng vấn sâu định tính) được tác giả thực hiện trực tiếp tại địa bàn hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018.

3. Những biểu hiện cụ thể của sự biến đổi cấu trúc gia đình Chăm Bàlamôn hiện nay là gì?

Sự biến đổi thể hiện rõ qua ba mặt:

  • Quy mô gia đình: Gia đình hạt nhân (hai thế hệ, ít con) tăng lên, gia đình truyền thống nhiều thế hệ giảm dần.
  • Quyền quyết định kinh tế: Quyền mua bán tài sản lớn chuyển dần từ phụ nữ sang cơ chế vợ chồng cùng bàn bạc.
  • Phân công lao động và hôn nhân: Vị thế kinh tế của người chồng được nâng cao; con cái có quyền tự chủ trong hôn nhân; xuất hiện các mô hình cư trú linh hoạt hơn.

4. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để định hướng sự biến đổi cấu trúc gia đình?

Luận án đề xuất ba nhóm giải pháp tại Chương 3 (tr. 178):

  1. Nhóm giải pháp về nhận thức (tuyên truyền pháp luật, bình đẳng giới, giữ gìn đạo đức gia phong).
  2. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách (chính sách an sinh xã hội, việc làm, hỗ trợ kinh tế hộ).
  3. Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo (nâng cao dân trí, phát triển giáo dục dân tộc nội trú, dạy học tiếng nói - chữ viết Chăm).

Kết luận

Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Trịnh Thị Nhài là công trình nghiên cứu hệ thống về sự chuyển dịch cấu trúc gia đình của cộng đồng người Chăm Bàlamôn tại Ninh Thuận và Bình Thuận trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Luận án đã làm rõ các cơ sở lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về gia đình, kết hợp với khảo sát thực nghiệm xã hội học để chỉ ra quy luật vận động từ mô hình gia đình mẫu hệ truyền thống sang mô hình gia đình hạt nhân hiện đại. Trên cơ sở nhận diện các tác động tích cực và tiêu cực, công trình đã đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp toàn diện về nhận thức, chính sách và giáo dục nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình Chăm Bàlamôn, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương.