PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Gia đinh hiểu theo nghĩa rộng liên quan trực tiếp đến vấn đề kinh tế, giáo dục, vãn hóa. Hay nói cách khác, gia đình là hạt nhân của xã hội, tham gia ngay từ đầu vào mọi quá trình sản xuất, từ sản xuất hàng hóa đến tiêu thụ sản phẩm; từ việc tái tạo ra con người đến việc giáo dục, bồi dường con người; tìr chồ tạo ra sự khác biệt về sở hữu đến chồ giải quyết vấn đề sở hừu. Đen lượt mình, các quá trình sản xuất và tiêu dùng, sứ dụng công cụ lao động và cải tiến, giáo dục và bồi dưỡng.
đều tác động trở lại gia đình, làm cúng cổ hoặc làm biến đổi hình thức và cấu trúc gia đình. Quan hệ gia đình là một trong ba mối quan hệ cơ ban nhất của con người đà được hình thành trong tiến trình phát triên của lịch sử nhân loại. Ãngghen, quan hệ gia đình “tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sứ: hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái” (Mác, c & Ảngghen, Ph, 1995a, tr. Nói như vậy có nghĩa là gia đình đảm nhiệm các chức năng cơ bán: chức năng tái sán xuất ra con người, chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình, chức năng chăm sóc giáo dục, thoả mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm các thành viên.
Tựu chung lại gia đình quyết định đến phát triển xã hội, gia đinh tốt thì xã hội mới tốt hơn được. Gia đình các dân tộc ít người ở Việt Nam có nhiều điềm tương đồng bên cạnh nhùng điểm đặc thù do yếu tố lịch sử tạo nên. Chính vì vậy, đường lối, chính sách của Đang Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đến gia đình nhóm dân tộc ít người, trong đó có dân tộc Chăm. Người Chăm ở Việt Nam hiện nay bao gồm các nhóm cộng đồng dân cư sinh sống ở các tĩnh miền Trung: Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình 2 Định: miền Tây Nam bộ: An Giang: miền Đóng Nam bộ: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Mỗi nhóm người Chăm ở Việt Nam bên cạnh những điểm tương đồng là những đặc trưng về tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa khác nhau cùng góp phần tô đượm cho văn hóa dân tộc nhiều sac màu. Dải đất duyên hải Trung và Nam Trung bộ của Việt Nam vốn là vùng sinh tụ rât lâu đời của người Chăm trong quá khứ và cho đến tận ngày nay. Một bộ phận không nhó người Chăm ơ Việt Nam di cư sang Campuchia một thời gian, sau đó quay trở lại Việt Nam sinh sổng ở Tây Nam bộ và Đông Nam bộ. Tộc người Chăm đà được hình thành và xây dựng nhà nước hưng thịnh - Vương quổc Champa1 tồn tại từ đầu Công nguyên đến cuối thế kỷ XVI.
Người Chăm có ngôn ngữ riêng, chừ viết riêng, vãn hóa phong phú và có nhiều tập tục vần còn bảo lưu cho đến ngày nay, trong đó có tập tục quy định cấu trúc của gia đình. Tinh Ninh Thuận, Bình Thuận thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ, nơi đã diễn ra nhiều biến cố lịch sử cùa nhà nước Champa, hiện nay người Chăm với hơn 100 nghìn người (2019), chiếm tỷ lệ gần 60% tộc người Chăm ớ Việt Nam. Người Chăm ờ đây phan lớn theo đạo Bàlamôn, là một tôn giáo lớn ờ Ãn Độ thời kỳ cô đại và sau đó du nhập vào nhóm người Chàm ở Việt Nam. Sự du nhập đó không phải thụ động mà có sự chọn lọc phù hợp tín ngưỡng dân gian bản địa và phù hợp với đặc điểm cấu trúc gia đình người Chăm theo chế độ mẫu hệ.
Người Chăm Bảlamôn là một trong số ít dân tộc thiốu số còn bảo lưu được đặc trưng gia đình chế độ mẫu hệ. Trải qua thời kỳ phát triển rực rờ, sau đó là thăng tràm nhưng người Chăm Bàlamôn vẫn giữ gìn giá trị vãn hóa r Tiêng Chăm là Campapura hay Nagara Campa. 3 truyền thống của riêng dân tộc mình, đặc biệt là chế độ mẫu hệ vần đang tồn tại trong mồi gia đình cho đến tận ngày nay. Điều này không chỉ tồn tại trong cuộc sổng gia đình đương đại mà còn là nguồn mạch lịch sử từ tổ tiên đến thế hệ ông bà, cha mẹ, con cháu và sẽ còn tồn tại lâu dài thế hệ mai sau.
Cấu trúc gia đinh mầu hệ người Chăm Bàlamôn gồm nhùng người cùng huyết tộc theo dòng mẹ thuộc các thế hệ khác nhau, ông bà, cha mẹ, con cháu. Ban đầu gia đình gồm cha mẹ và các con cùng canh tác trên một khu đất đai chung, công cụ sán xuất chung, cùng lao động và hưởng thụ những thành quả chung. Gia đình phát triển đến khi số thành viên quá đông thì lúc đó mới tách thành gia đình hạt nhân khác. Lúc này dẫn đến việc sở hữu tài sản nói chung và sở hữu tư liệu sản xuất nói riêng củng bắt đầu thuộc về riêng gia đinh hạt nhân.
Cấu trúc gia đình hạt nhân đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó. Trước tiên gia đình hạt nhân ton tại như một đơn vị độc lập, gọn í nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với sự biên đôi của xã hội. Sự biên đôi câu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn đôi với việc xây dựng gia đinh văn hóa ở Việt Nam có ý nghĩa lớn, góp phần bảo lưu được các giá trị truyền thống vãn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lề, gia đạo. Xu hướng biến đối cấu trúc gia đình sè tiếp tục diễn ra với nhiều vấn đề phức tạp và cần giải quyết bàng nhiều cách khác nhau.
Trong tương lai, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động vào cấu trúc gia đinh hạt nhân thì buộc nó sè có những thay đồi thích ứng với xã hội ngày càng hiện đại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự biến đổi cấu trúc gia đình người Chăm Bàlamôn ở Việt Nam hiện nay là nhàm phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị tiến bộ cũa thời đại về gia đinh đố xây dựng một cấu trúc gia đình bồn vừng của người Chăm Bàlamôn hiện đại là một nhiệm vụ cấp bách. r - ' r - * r Vì những lý do trên mà tác giả chọn vân đê “Sự hiên đôi cảu trúc gia 4 đình người Chăm Bàlamỏn ở Việt Nam hiện nay” làm đẽ tài luận án tiên sỹ. Nó vừa có giá trị lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề gia đình và biến đổi cấu trúc gia đình đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu. Thông qua các công trình khoa học, các tác phẩm, các học gia đà dự báo và đề xuất những giải pháp khác nhau để duy trì giá trị truyền thống trong gia đình. Có thề khái quát các công trình nghiên cửu về vấn đề trên theo nhóm các chú đề như sau: Hướng thứ nhất là các công trình liên quan dền vấn dề gia dinh, cấu trúc gia dinh, hiến dổi cẩu trúc gia dinh nói chung Trước tiền, là các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài về vấn đề gia đình, cấu trúc gia đình, biến đôi cấu trúc gia đình. Dó là tác phàm Gia đình cùa tác giả Yvonne Castellan1 (Nguyễn Thu Hồng & Ngô Dư dịch), được Nxb.
Thể Giới xuất bản năm 2002, đã phần nào giải đáp được câu hỏi “Vì sao có gia đình ?” để từ đó mô tả một cách bao quát nhất về các gia đình trên thế giới, bao gồm: gia đình người Nga, gia đình Xlavơ ở phía Nam, gia đình ở Bắc Mỹ, gia đình ờ Mỳ Latinh, gia đinh người theo đạo Hindu, gia đình ớ Trung Quốc, gia đình ớ châu Phi, gia đình ở các nước Hồi giáo. Trên cơ sở tìm hiểu các gia đình trôn thế giới tác giả đã khái quát những đặc điổm chung của gia đình công nghiệp là gia đình hạt nhân. Gia đình hạt nhân là gia đình nam, nừ bình đăng về quyền lợi và nghĩa vụ; thu nhập, tài sản riêng rẽ, tự do chọn chỗ làm việc, nghề nghiệp tùy theo năng lực trình độ của từng người hấp thụ được ở nhà trường; tự do chọn lựa bạn trăm năm, nơi ở chung, việc sinh đè, việc ly dị. Gia đình và việc làm có mối quan hệ khăng khít với nhau, việc làm của người cha và việc 1 Yvonne Castellan, Giáo sư ưu tú Trường Đại 11ỌC Paris X.
5 làm của người mẹ ở xã hội quy định kiều hình gia đình. Ớ gia đình cả người cha và người mẹ cùng có một vị thể nhất định trong xã hội thi ứng xử giữa họ với nhau và với các thành viên gia đình sẽ theo hướng dân chù, tự do. Ngược lại, chỉ một người cha hoặc người mẹ làm việc ở xã hội, tức là người còn lại lo công việc nội trợ thì tính gia trưởng được thừa nhận ở trong gia đình. Ke đến là tác phâm Cuộc cách mạng thế giói và các mô hình gia đình (World revolution and family patterns) cùa tác già William Josiah Goode1, được Nxb.
Free Press of Glencoe xuất bản năm 1963, đã trình bày về các mẫu hình gia đình tồn tại trong xã hội công nghiệp hóa, đô thị hóa. Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, sự phân chia lại quyền lực diền ra mạnh mẽ giừa các cường quốc với nhau. Nước thắng trận nhanh chóng khôi phục, phát triển nền kinh tế, hướng đến ổn định bền vừng xã hội. Đê đấy nhanh tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu không còn cách nào khác là phải triển khai thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong giai đoạn tiến hành đô thị hóa, các giá trị đạo đức nói chung và nểp sống gia đình truyền thống nói riêng luôn luôn diễn ra theo hai hướng đối lập nhau, số đóng theo hướng úng hộ việc thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống, ngược lại, một số gia đình nhất là những gia đình đang sinh sổng tại các đô thị, các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống ấy đang có xu hướng bị mai một dần. Đây là xu hướng chung diễn ra ờ gia đình phưong Tây.