Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ DUY THỨC HỌC PHẬT GIÁO VÀ BÁT THỨC TÂM VƯƠNG VỚI 51 HÀNH TÂM SỞ 1. Khái luận về duy thức học Phật giáo 1. Một số khái niệm và sự truyền thừa Duy thức nguyên tiếng Phạn ở Ấn Độ gọi là Vijmana matravada. Vijmana là nhận thức, matravada là duy; nhưng theo phép đặt chữ của Hán văn, người ta phải sắp đảo lại thành Duy thức “Duy thức là một pháp môn tối yếu, tối thắng nghĩa của Phật tự tìm ra để chứng quả vô thượng chính đẳng chính giác.
Bởi lẽ, không có nhận thức ắt không có trí tuệ thì sẽ không thể tìm hiểu được bản thể của vũ trụ, căn nguyên của sự đau khổ về luân hồi sinh tử, để tinh tiến tu trì, phát đại hùng đại lực tiến tới đại viên tính trí, thân chứng tâm trí tuệ Đại quang minh mà thành Phật đạo”[4;94-109]. Thông thường người ta hay nói: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, nhưng thực ra thì Tâm và Thức chỉ là một và có khi gọi là “Tâm thức”. Tâm chỉ cho sự tĩnh lặng, thanh tịnh, sự bất động, nên gọi là Tâm. Thức chỉ cho sự phân biệt, nhận thức hiện tượng, sự vật, chính vì đó mà có ra mọi hình thái trong vũ trụ, tức là các pháp trong vũ trụ mà các pháp ấy chỉ là "giả danh, giả tướng”, do hư vọng phân biệt mà có ra, nên gọi là Thức.
Từ sự phân biệt, nhận thức mọi hiện tượng, sự vật trong vũ trụ, nên gọi là "Minh liễu phân biệt”. Sở dĩ gọi là “Duy thức" chứ không gọi là “Tâm thức” là vì chữ “Duy” tức là duy nhất, chỉ có một, muốn nói ngoài "Thức" ra không có một vật nào tồn tại, hay nói một cách khác tất cả muôn sự muôn vật, từ thức biến hiện ra mà có, nên gọi là "Duy thức". Duy thức học bắt nguồn từ thời đức Phật, Ngài đã diễn giải qua các Kinh như: Lăng Già, Hoa Nghiêm, Giải Thâm Mật.Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn khoảng 900 năm - 1000 năm, có các Tôn Đức: Di Lặc Bồ Tát,Vô Trước, Thế Thân đã đúc kết hệ thống hóa lời của đức Phật qua các kinh, hình thành Duy thức học, tạo nên một "Tông", gọi là “Pháp tướng Tông”.Từ đó, Duy thức học được phát triển mạnh mẽ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Giáo lý của Phật có đến tám vạn bốn ngàn (84.000) pháp môn tu tập, được chia ra làm mười tông, chung quy chỉ có hai loại: Pháp tính và Pháp tướng.
Duy thức tông thuộc về Pháp tướng. Nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu Duy thức tông gọi là Duy thức học. Khởi điểm thuyết minh về “Duy thức học” người đầu tiên là ngài Di Lặc Bồ Tát, Ngài đã ứng hóa thỉnh giảng nơi giảng đường Du Gìa Na tại miền trung Ấn Độ, thuyết bộ Du Gìa Sư Địa Luận. Bồ Tát Vô Trước, Thế Thân tiếp thu chuyển thành lời văn 100 quyển.
Chính vì thế, có thể nói ngài Di Lặc Bồ Tát được xem là Thủy tổ của Duy thức học, hay còn gọi ngài là “Tông” của “Pháp tướng Duy thức học”. Chính vì thế mà về mặt hệ thống hóa từ lập thành, triển khai và hưng thịnh thì phải khẳng định rằng : Di Lặc Bồ Tát, Vô Trước, Thế Thân là những vị Tổ sư danh tiếng đương thời đã truyền thừa Pháp tướng Duy thức học thời đức Phật cho đến sau này, rồi từ đó truyền bá khắp nơi, là những vị có công lao to lớn nhất lúc bấy giờ. Về phương diện lịch sử, tư tưởng, văn học bắt nguồn từ Tông Du Gìa (yogacàra) được hình thành, y cứ nơi tư tưởng giáo nghĩa bộ Du Gìa Sư Địa luận (yoga- càra-bhami) vào cuối thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V do Di Lặc Bồ Tát thuyết giảng. Ngài Vô Trước, Thế Thân tiếp thu và chuyển thành lời văn 100 quyển.
Bào đệ của ngài Vô Trước là ngài Thế Thân trước kia tu theo phái Tiểu thừa, sau được sự cảm hóa của ngài Vô Trước, ngài chuyển sang Đại thừa, ngài phát huy những yếu lý then chốt về Duy thức, đồng thời truyền bá sâu rộng khắp nơi. Từ đó, được hình thành Pháp tướng tông hay còn gọi là Pháp tướng Duy thức học, thay thế cho Tông Du Gìa đã được hình thành từ trước và kế tiếp là Bồ Tát Luận Sư Vô Trước, Bồ Tát Thế Thân, từ đó các ngài Trần Na Bồ Tát, Hộ Pháp, Giới Hiền. đã hoàn thiện Duy thức Pháp tướng tông một cách hoàn bị, vững chắc. Sau đó lần lượt các Luận sư phổ biến sâu rộng về Duy thức học, nêu rõ tất cả nhân sinh vũ trụ trong thế gian và ngoài thế gian đều từ Tâm thức mà hiện hữu, ngoài ra không một pháp nào tồn tại.
Riêng về ngài Thế Thân là bào đệ của ngài Vô Trước, sơ khởi xuất gia tu theo môn phái Tiểu thừa, ngài đã mang hết khả năng đề cao ca tụng và viết ra 500 bộ luận để ca tụng giáo pháp Tiểu thừa. Sau khi quy hướng về Đại thừa, ngài đã chú tâm tu tập và viết nên 500 bộ luận, tán dương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 giáo lý uyên thâm của Đại thừa, vì thế mà Thế ngài Thân được gọi là ngài Thiên Bộ Luận Sư, ngài đã viết nhiều bộ luận có giá trị, thuộc các bộ luận nổi bậc nhất, có bộ "Duy thức Tam Thập Tụng" bộ này được 10 Luận sư1 Thích Nghĩa giải thích sâu rộng. Qua đó thấy được tính chất thù thắng từ hiện tượng đến bản thể, tâm lý, vật lý, đạo đức cho đến quả vị tu chứng qua bộ Duy thức Tam thập tụng. Cho nên, Theo Đại sư Thái Hư, trong “Khái luận về Pháp tướng Duy thức học” do Hòa thượng Thích Tâm Hoan dịch, cho rằng: “Pháp tướng Duy thức học trong Phật học có chỗ gọi là Pháp tướng học và cũng có chỗ gọi là Duy thức học.
Nội dung của hai danh xưng này hợp lại với nhau nên được gọi chung là Pháp tướng Duy thức học”[40;2]. Duy thức là cách nói ngắn gọn, gọi đầy đủ là Pháp tướng Duy thức học, là nói về các "Pháp" ( bao gồm cả nhân sinh và vũ trụ) chỉ do "Thức" mà ra. Pháp tướng là hình tướng của các pháp, theo định nghĩa trong Thành Duy thức luận về pháp tướng: "Nhậm trì tự tính, quỹ sinh vật giải”. Tức là giữ được tự tính của các pháp, nhìn vào hình tướng ta có thể hiểu được đó là "Pháp" gì.
Ngoài ra “Pháp” còn có nghĩa bao hàm mọi vật, cụ thể hay trừu tượng, khi nhìn vào ta có thể có một khái niệm về vật ấy, đều gọi là "Pháp". “Pháp” theo thuật ngữ Duy thức học thì chữ "Pháp”, là chỉ cho những vật mang một đặc tính rõ ràng, cụ thể, không thể nhầm lẫn giữa vật này với vật khác, mỗi pháp mang một khuôn khổ riêng biệt. Chính "Pháp" ấy nó có thể làm phát sinh trong trí óc một khái niệm rõ ràng (quỹ sinh vật giải). "Pháp chỉ chung cho tất cả những hiện tượng sự vật cụ thể hay trừu tượng có tự tính, có bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nhìn vào là có thể nhận thức và giải thích được" [48;281].
Trong thuật ngữ Phật học, “Pháp” phiên là Đạt - ma, Đàm - ma, Đàm - vô, là khái niệm chỉ mọi sự vật, hiện tượng từ vật chất đến tinh thần, từ hữu hình đến vô hình, từ cực đại đến cực tiểu, từ cái có thể nghe, thấy, ngửi, biết, cảm nhận cho đến cái chỉ tồn tại trong tưởng tượng; từ cái phàm tục đến thánh thiện, từ hữu vi đến vô vi: "Từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật hiện tượng dù là to nhỏ hữu hình , vô hình, chân thực, hư vọng. Sự vật cũng là 1 Hộ Pháp, Đức Huệ, An Huệ, Thân Thắng, Nam Đà, Tịnh Nguyện, Hỏa Biện, Thắng Hữu, Thắng Tử, Trí Nguyệt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 vật, đạo lý cũng là vật, tất thảy đều là pháp cả. Duy thức luận giải thích hai ý nghĩa của pháp: "Tự thể nhậm trì và quỹ sinh vật giải""[21;957]. Triết học Phật giáo cho rằng, Pháp là căn nguyên của thế giới.
Thế giới luôn luôn tồn tại “vạn pháp” hay “hằng hà sa số” các pháp. Pháp là danh từ gốc tiếng Phạn – Dharma nguyên nghĩa là vật mang, được dùng để chỉ tất cả các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất từ cái “bé như hạt bụi” đến cái “lớn như quả núi”. Theo từng văn cảnh, Phật giáo chia làm các loại Pháp như: - Pháp hữu vi: là những sự vật hiện tượng mà các giác quan có thể nhận thức, cảm giác được. - Pháp vô vi: là những sự vật hiện tượng mà các giác quan không nhận thức, cảm giác được.
- Pháp hữu tình: là những sự vật có sự sống. - Pháp vô tình: là những sự vật vô tri, vô giác. - Pháp thiện: là những pháp thúc đẩy sự giải thoát, - Pháp ác: là những pháp cản trở sự giải thoát. “Vạn pháp” trong vũ trụ chính là các sự vật hiện tượng tạo nên thế giới.
Các sự vật, hiện tượng, các pháp trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn chuyển động không ngừng nghỉ, các pháp bị chi phối bởi luật “vô thường”(Anicca). Trong kinh Pháp Cú Thí Dụ có lời nói kệ của đức Thế Tôn: Sở hành phi thường Vị hưng suy pháp (Các hành đều vô thường Đó là pháp thịnh suy)[12;2] "Vô thường” là lý thuyết chỉ sự vận động, biến đổi của các pháp trong thế giới và chi phối bởi giáo lý nhân duyên. Phật giáo quan niệm, nhân là mầm tạo quả, duyên là phương tiện, điều kiện các sự vật hiện tượng (các pháp) trong vũ trụ do nhân duyên mà thành nhân duyên hòa hợp thì các pháp sinh, nhân duyên tan rã các pháp diệt. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm có viết: "Chư pháp trùng duyên sinh Diệc trùng nhân duyên diệt (Các pháp do nhân duyên sinh Cũng từ nhân duyên diệt)[35;104] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Hay trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn cũng viết: "Xa lìa các nhơn duyên Chỉ có vi tâm trụ Thân kia tùy chuyển biến Cũng lìa tất cả sự Tưởng sở tưởng đều lìa Ta nói là vô sanh" [14;460] Tuy nhiên, các pháp không phải do một nhân duyên mà có nhiều nhân duyên.
Do đó, các pháp quan hệ mật thiết với nhau, tác động chi phối lẫn nhau. Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm có viết: Một thế giới để vào tất cả Tất cả thế giới để vào một [15;8]. Trong nhận thức các pháp, Phật giáo còn đưa ra thuyết "Sắc – Không". Sắc là danh từ Phật học chỉ sự vật, hiện tượng ở trạng thái có hình tướng trong không gian mà con người nhận biết được, còn gọi là "Có".