phần mở đầu, phần kết luận. 8 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VIỆC THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ AN SINH XÃ HỘI Phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội ở Việt Nam và trên thế giới không phải là một khái niệm mới, tuy nhiên để có những nghiên cứu sâu rộng, mang ý nghĩa khoa học thì hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đáng để chúng ta đầu tư nghiên cứu. Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã có những bước chuyển mình về kinh tế được các nước và Thế giới đánh giá cao, bên cạnh đó là đời sống của người dân ngày càng một cải thiện.
Tuy nhiên để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững và duy trì lợi thế sẵn có, phát huy tối đa lợi thế của cơ cấu dân số vàng và ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì cần có một nghiên cứu khoa học thật sâu sắc và toàn diện. Là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong những năm qua, cùng với lợi thế về vị trí địa lý nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam ngay bên cạnh đầu tàu kinh tế trọng điểm là thành phố Hồ Chí Minh, là cầu nối giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long nên Long An có những lợi thế sẵn có của mình vượt trội hơn so với những khu vực khác như lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực cùng truyền thống đoàn kết, tinh thần năng động sáng tạo để xứng đáng với vị thế tỉnh cửa ngõ của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, cũng có không ít những khó khăn mà tỉnh hiện nay đang gặp phải: dân số biến động thường xuyên; cơ sở hạ tầng còn thiếu yếu; tình trạng người lao động thất nghiệp đang gia tăng. thì việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và an sinh xã hội của Long An là một vấn đề hết sức cần thiết.
9 Trong thời kỳ hiện nay, kinh tế đất nước đang trong thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều nguy cơ gây rủi ro như: thất nghiệp, thiếu việc làm, chênh lệch giàu nghèo, nguy cơ bẫy thu nhập trung bình. những yếu tố tiêu cực tác động đến sinh hoạt, sản xuất của con người ngày càng có chiều hướng cực đoan. Do đó, các chính sách về kinh tế và xã hội phải ngày càng phải đa dạng, phối hợp nhuần nhuyễn, hệ thống an sinh xã hội phải linh hoạt và đủ khả năng thực hiện những mục tiêu an sinh xã hội. Nhằm chỉ ra những thực trạng từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển triển kinh tế và thực hiện an sinh xã hội theo mục đích của luận văn, trước hết cần phải triển khai làm rõ những vấn đề lý luận chung về phát triển kinh tế và an sinh xã hội để làm cơ sở lý luận cho luận văn.
Lý luận chung về phát triển kinh tế Thuật ngữ “kinh tế” đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người, như ở phương Đông, trong Chu dịch của Trung Quốc đã đề cập đầu tiên về từ “kinh tế” sau này được sử dụng nhiều với ý nghĩa “kinh bang tế thế” có nghĩa là sửa nước cứu đời, hoặc “kinh tế thế dân” là trị đời giúp dân (Đào Duy Anh, 2005, tr. Còn ở phương Tây, khái niệm kinh tế đã được đề cập bởi nhà tư tưởng Hy Lạp Xenôphôn (430-345 TCN) trong tác phẩm Kinh tế luận ý nghĩa là “quản lý gia đình”, “hay là quản lý các mặt hàng sản xuất và sinh hoạt trong gia đình chủ nô” (Phạm Thúc Huân, 2008, tr. Theo nhà triết học Aritxtốt (384-322 TCN), thì kinh tế là “của cải thực tế” là toàn bộ giá trị sử dụng của nó và tất cả những hoạt động gắn liền với việc tạo ra giá trị sử dụng là hoạt động kinh tế. Quan điểm về kinh tế đã có quá trình phát triển và được nghiên cứu và đúc kết đó là: “Kinh tế là toàn bộ những mối quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử, là cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; là hoạt động kinh doanh của một nước nhất định, bao gồm các ngành và các loại hình sản xuất tương ứng” (Từ điển Kinh tế chính trị học, 1987, tr.
10 Như vậy, với quan điểm này, khái niệm kinh tế ngày nay được hiểu với nghĩa rộng hơn so với các thời kỳ trước với ý nghĩa mỗi phương thức sản xuất đều có nền kinh tế riêng của nó, được phân biệt bởi tính chất sở hữu về tư liệu sản xuất, mục đích sản xuất, hình thức và phương pháp kinh doanh. Quan niệm kinh tế theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là: “Tổng các mối quan hệ trong quá trình sản xuất một hình thái kinh tế - xã hội nhất định trong tổ chức và hoạt động của cơ sở hạ tầng của xã hội, bao gồm các ngành kinh tế, kỹ thuật, các loại hình sản xuất tương ứng. Mỗi một phương thức sản xuất đều có một nền kinh tế riêng. Mỗi một nền kinh tế đều do các quan hệ sản xuất cũng như tính trình độ của lực lượng sản xuất quy định” (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2006, tr.584) Có thể nói kinh tế là tổng thể những mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội, trong tổ chức và hoạt động của cơ sở hạ tầng.
Nó bao gồm các ngành kỹ thuật, các loại hình sản xuất tương ứng và là cơ sở, là tiền đề và là điều kiện để con người tồn tại và phát triển. Tăng trưởng kinh tế có thể được hiểu đó là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Tăng trưởng kinh tế không đơn thuần chỉ hiểu là sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người mà phải gắn với phát triển một cách an toàn và ổn định, chú trọng tới cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Để duy trì tốc độ cao trong dài hạn, tăng thu nhập cần phải gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo công bằng bình đẳng cho mọi người dân.
Có thể thấy nội hàm của tăng trưởng kinh tế khá hẹp, là một khái niệm đơn thuần thiên về số lượng và tốc độ, còn nội hàm của phát triển kinh tế rộng hơn, là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả số lượng và chất lượng, vừa xét 11 đến nhân tố kinh tế lại vừa xét đến nhân tố xã hội và nhân tố môi trường. Như vậy, tùy theo từng thời kỳ lịch sử phát triển kinh tế các nhà lãnh đạo ở mỗi quốc gia có những quan niệm khác nhau về sự lựa chọn con đường phát triển. Thuật ngữ “Phát triển kinh tế” Phát triển vốn là quy luật phổ biến của thế giới vật chất. Đó là một trường hợp đặc biệt của sự vận động, là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn với đặc trưng chủ yếu là cái cũ mất đi và cái mới ra đời theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Phát triển là sự vận động đi lên, sự biến đổi theo chiều hướng tiến bộ của những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Ở một khía cạnh nào đó, phát triển kinh tế thực chất là tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, tuy nhiên không phải lúc nào tăng trưởng cũng đem lại những mặt tích cực hay tiến bộ xã hội hoặc dẫn đến những “thảm họa” cho con người nếu nó được sử dụng cho những mục đích không tốt. Như vậy, thuật ngữ phát triển kinh tế được hiểu là nhằm mục đích tạo điều kiện để hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội vì sự phát triển con người. Nếu tiến bộ xã hội được bảo đảm thì nó lại trở thành lực lượng vật chất to lớn, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững theo C.Mác sản xuất chẳng qua chỉ là sự phát triển của lực lượng sản xuất của loài người.
Về mối quan hệ: tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với phát triển kinh tế nhưng đây là điều kiện cần để có sự phát triển kinh tế, làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội và tác động trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế nên tăng trưởng kinh tế là phương tiện, là điều kiện, là tiền đề cho phát triển kinh tế. Đối với các quốc gia có nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, lạc hậu thì việc chuyển cơ cấu kinh tế sang hướng hiện đại đóng vai trò quyết định chất lượng nền kinh tế. Về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế vừa quan hệ mật thiết với nhau, vừa khác nhau về bản 12 chất. Tăng trưởng kinh tế là chỉ sự tăng trưởng của một quốc gia hoặc một khu vực trong một thời gian nhất định về mặt của cải quốc dân hoặc của cải xã hội.
Cụ thể đó là sự tăng thêm về sản phẩm sản xuất và tổng lượng dịch vụ của một nước. Tăng trưởng kinh tế là cơ sở của phát triển kinh tế, kinh tế phát triển là kết quả của tăng trưởng kinh tế. Nói chung không có tăng trưởng kinh tế thì không thể phát triển kinh tế, nhưng có tăng trưởng kinh tế không nhất thiết sẽ có phát triển kinh tế. Có lúc kinh tế tuy tăng trưởng với tốc độ nhanh, nhưng lâu dài lại tạo ra sự phân hoá hai cực, người giàu càng giàu, người nghèo càng nghèo.
Hoặc trong tăng trưởng kinh tế phần lớn là sự tiêu hao kinh tế quốc dân, không bù đắp cho quốc kế dân sinh, hoặc chỉ theo đuổi tốc độ tăng trưởng của kinh tế mà không chú ý đến phúc lợi cho nhân dân, không xét đến cái giá xã hội phải trả. Tất cả những điều đó chứng tỏ: tăng trưởng và phát triển không phải là đồng nhất, có thể có tăng trưởng mà không có phát triển. Giữa tăng trưởng và phát triển tuy đều biểu thị cho sự gia tăng, lớn lên trong một phạm vi nhất định, tuy nhiên về chiều sâu thì phát triển có tính chất bao quát hơn, toàn diện hơn.