Thực trạng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Bến Cát, Bình Dương

Luận văn phân tích thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động tại Bến Cát. Đánh giá nhận thức, khó khăn và đề xuất giải pháp phù hợp.

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

141
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của BHXH tự nguyện Bến Cát

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là chính sách bảo vệ người lao động có thu nhập không ổn định, đặc biệt là những người lao động tự do, người làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ tại thị xã Bến Cát. Đây là một trong những hình thức bảo hiểm xã hội quan trọng, giúp người lao động có được sự bảo vệ về y tế, hưu trí và các chế độ hỗ trợ khác khi gặp khó khăn. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Linh tại Đại học Thủ Dầu Một, BHXH tự nguyện Bến Cát đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng lưới an toàn xã hội toàn diện. Tầm quan trọng của chính sách này nằm ở khả năng bảo vệ người lao động, giảm gánh nặng tài chính khi ốm đau, và tạo điều kiện cho cuộc sống an định trong tương lai.

1.1. Định nghĩa BHXH tự nguyện

BHXH tự nguyện là hình thức bảo hiểm mà người lao động tự quyết định tham gia, không bắt buộc. Đây là cơ chế bảo vệ xã hội dành cho những người không nằm trong hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tại Bến Cát, chính sách này được triển khai nhằm mở rộng phạm vi bảo vệ cho tất cả các đối tượng lao động, đặc biệt là lao động tự do và người làm việc kinh doanh cá thể.

1.2. Vai trò của BHXH tự nguyện trong bảo vệ người lao động

Chính sách BHXH tự nguyện Bến Cát cung cấp sự bảo vệ toàn diện về y tế, hưu trí và các trợ cấp xã hội. Người tham gia được hưởng những quyền lợi như: thanh toán chi phí khám chữa bệnh, nhận trợ cấp khi tuổi tác, và hỗ trợ tài chính lúc khó khăn. Điều này giúp giảm áp lực tài chính cho gia đình và tạo sự ổn định trong cuộc sống của người lao động.

II. Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện tại Bến Cát

Theo luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thùy Linh, thực trạng tham gia BHXH tự nguyện Bến Cát cho thấy tỷ lệ người lao động tham gia còn thấp. Nhiều người lao động chưa có nhận thức đầy đủ về lợi ích của chính sách này, dẫn đến việc hàng năm có hàng ngàn người không được bảo vệ. Đặc biệt, ở thị xã Bến Cát với đặc điểm kinh tế - xã hội là có nhiều lao động tự do, lao động di cư, nên việc tiếp cận thông tin về BHXH tự nguyện còn hạn chế. Các cơ quan chưa triển khai đủ hoạt động tuyên truyền, giáo dục về chính sách này một cách toàn diện và hiệu quả.

2.1. Tỷ lệ tham gia và những nhóm đối tượng chủ yếu

Tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện Bến Cát chủ yếu là người lao động có thu nhập ổn định và các lao động tự do biết được về chính sách. Những người lao động ngoài đô thị, lao động không chính thức, và những người có thu nhập thấp có tỷ lệ tham gia thấp hơn. Theo khảo sát, phần lớn người tham gia là những người lao động độc lập, tiểu thương, và nhân viên các doanh nghiệp nhỏ.

2.2. Nhận thức và thái độ của người lao động

Nhiều người lao động tại Bến Cát chưa hiểu rõ lợi ích của BHXH tự nguyện, thậm chí còn có nhầm lẫn với các loại bảo hiểm khác. Thái độ của một số người là hoài nghi, cho rằng chi phí cao và quyền lợi không xứng đáng. Tuy nhiên, những người hiểu biết rõ hơn lại có thái độ tích cực, coi đây là một khoản đầu tư quan trọng cho tương lai của gia đình.

III. Những thách thức chính trong triển khai BHXH tự nguyện Bến Cát

Thách thức của BHXH tự nguyện Bến Cát là rất lớn và đa chiều. Thứ nhất, hạn chế về tuyên truyền, giáo dục về chính sách này còn chưa đạt yêu cầu. Các cơ quan BHXH chưa có chiến lược tuyên truyền hiệu quả, đặc biệt là hướng tới những lao động tự do ở các khu vực ngoài đô thị. Thứ hai, khó khăn tài chính của người lao động khiến họ ưu tiên chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày hơn là tham gia bảo hiểm. Thứ ba, cơ chế triển khai chưa được hoàn thiện, quy trình đăng ký phức tạp, và hỗ trợ từ cơ chế pháp lý còn hạn chế. Cuối cùng, sự thiếu hiểu biết của người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia là trở ngại lớn.

3.1. Thách thức về tuyên truyền và nhận thức

Công tác tuyên truyền BHXH tự nguyện Bến Cát chưa thực sự hiệu quả, chỉ tập trung tại các địa điểm công cộng mà không tiếp cận trực tiếp đến các lao động tự do. Người lao động thiếu thông tin chi tiết về chính sách, quyền lợi, nghĩa vụ, dẫn đến sự ngần ngại khi quyết định tham gia. Cần phải có những hoạt động tuyên truyền mang tính chủ động, sáng tạo và phù hợp với từng nhóm đối tượng.

3.2. Thách thức về tài chính và khả năng trả phí

Nhiều lao động tại Bến Cát có thu nhập không ổn định, thấp, không đủ để vừa chi trả sinh hoạt vừa đóng phí BHXH tự nguyện. Mức phí đóng hàng tháng hoặc hàng năm, mặc dù có hỗ trợ từ nhà nước, vẫn là gánh nặng với những gia đình khó khăn. Cần có cơ chế hỗ trợ tài chính tốt hơn, khuyến khích hoặc trợ cấp cho những nhóm đối tượng có thu nhập thấp.

IV. Giải pháp và kiến nghị cải thiện BHXH tự nguyện Bến Cát

Để nâng cao tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện Bến Cát và giải quyết những thách thức hiện tại, cần có những giải pháp toàn diện. Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền và giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông đa dạng, tổ chức các buổi hội thảo, seminar cho người lao động. Thứ hai, đơn giản hóa quy trình đăng ký, tăng cường hỗ trợ từ các cơ quan địa phương, bưu điện và BHXH. Thứ ba, cải thiện chính sách hỗ trợ tài chính, như tăng mức trợ cấp nhà nước, có chương trình khuyến khích cho những người đóng phí đầu tiên. Thứ tư, xây dựng mạng lưới cộng đồng, tạo những nhóm hỗ trợ giúp người lao động tiếp cận chính sách dễ dàng hơn. Các kiến nghị này cần được triển khai đồng bộ, có sự phối hợp giữa các cơ quan, địa phương và cộng đồng.

4.1. Giải pháp tuyên truyền và nâng cao nhận thức

Cần xây dựng chiến lược tuyên truyền toàn diện cho BHXH tự nguyện Bến Cát, sử dụng các hình thức đa phương tiện: phát sóng truyền hình địa phương, quảng cáo trên mạng xã hội, tờ rơi, poster tại các địa điểm tập trung lao động. Tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo trực tiếp với người lao động tại nơi làm việc, khu dân cư, để giải thích chi tiết về quyền lợi và nghĩa vụ. Đặc biệt, cần có các nhân viên tuyên truyền chuyên trách tiếp cận từng nhóm lao động một cách cá nhân hóa.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế chính sách và hỗ trợ

Cần đơn giản hóa quy trình đăng ký BHXH tự nguyện, cho phép đăng ký trực tuyến, qua bưu điện hoặc các điểm đại lý. Tăng mức trợ cấp nhà nước cho những người có thu nhập thấp, có chương trình khuyến khích tham gia lâu dài. Cần có hỗ trợ từ chính quyền địa phương, phối hợp với các tổ chức xã hội, hội chứng thương để xây dựng mạng lưới hỗ trợ người lao động tiếp cận chính sách.

18/12/2025
Thực trạng tham gia chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tại thị xã bến cát tỉnh bình dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong cuộc sống mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng đều phải chịu những rủi ro nhất định do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế xã hội gây ra (động đất, bão lụt, bệnh tật, thất nghiệp, suy thoái môi trường, chiến tranh,.) Chính những rủi ro này, do khó dự đoán trước và khó phòng ngừa là nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo khổ. Người nghèo là người chịu nhiều rủi ro và ít điều kiện tiếp cận các công cụ phòng ngừa. Vì vậy cần phải xây dựng các cơ chế bảo đảm xã hội (Holzmann, Robert, 2003).

Quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia hiện nay đã làm nảy sinh thêm nhiều thách thức mới, đòi hỏi mỗi người phải có khả năng chủ động quản lý rủi ro. Các cá nhân và cộng đồng luôn có những biện pháp tự bảo vệ trước rủi ro. Từ những biện pháp không chính thức như tích trữ tài sản, dựa vào gia đình cho đến những cơ chế bảo đảm xã hội của nhà nước như các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội. Tốc độ già hóa dân số nhanh chóng của Việt Nam đang đặt ra thách thức cho hệ thống bảo hiểm xã hội.

Theo cơ sở dữ liệu dân cư do Bộ Công an cung cấp, vào năm 2019 người từ 60 tuổi trở lên chiếm gần 12% tổng dân số, đến ngày 9/2/2023 cả nước có 16.824 công dân từ 60 tuổi trở lên, chiếm gần 17% số dân. Tỷ lệ bao phủ BHXH trong khu vực chính thức và không chính thức, bất bình đẳng giữa các nhóm tham gia đóng bảo hiểm, thiếu sự bền vững về tài chính và năng lực quản lý. Cần thiết phải xây dựng hệ thống quản lý bảo hiểm xã hội hiện đại hiệu quả để đảm bảo an sinh thu nhập cho dân số già của Việt Nam. Chính sách công là công cụ quản lý nhà nước vĩ mô.

Chính sách xã hội là một bộ phận của chính sách công. Chính sách xã hội đã hình thành và phát triển từ lâu đời trên thế giới. Xã hội càng phát triển thì càng nảy sinh nhiều vấn đề. Mà việc nghiên cứu chính sách xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội là nhu cầu cấp thiết.

Chính sách Bảo hiểm xã hội là chủ trương của Đảng và Nhà nước trong đảm 1 bảo an sinh xã hội. Ngày 29/06/2006, Quốc hội thông qua Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007; riêng đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2008. Chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay đã có hệ thống văn bản quy định tương đối hoàn chỉnh. Và được tổ chức thực hiện bởi cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Chính sách BHXH tự nguyện là công cụ quản lý rủi ro an toàn của nhà nước nhằm giảm nhẹ rủi ro cho đối tượng người lao động tự do, không ký kết hợp đồng lao động. BHXH tự nguyện thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất. Để không ai rơi vào nghèo khó khi hết khả năng lao động, giảm bớt gánh nặng khi con người rơi vào những rủi ro trong chu kỳ sống. Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội được ban hành ngày 23/5/2018 đưa ra định hướng phát triển BHXH đến năm 2030 có khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, BHXH hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội vào năm 2030.

Đây được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng của nước ta và của ngành BHXH Việt Nam. Theo báo cáo tổng kết công tác thu của cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã Bến Cát, tính tới ngày 31/12/2020 có 1.547 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tăng 74.8% so với cùng kỳ năm trước. Đây vẫn là con số hạn chế so với số dân 326.350 người dân trên địa bàn thị xã. Với đặc thù là địa phương phát triển công nghiệp với chủ yếu là dân nhập cư trong độ tuổi lao động.

Dù thời gian qua ngành Bảo hiểm xã hội đã phối hợp với hệ thống Bưu điện Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, tư vấn trực tuyến, trực tiếp và lưu động. Đồng thời phát triển mạng lưới cộng tác viên và đại lý thu. Nhưng thực tế, vẫn còn nhiều người lao động chưa biết và chưa hiểu rõ thông tin về loại hình bảo hiểm mới này của nhà nước. Đây vẫn là chính sách mới nên cần có thời gian và phương thức tiếp cận đặc thù để thay đổi quan điểm tư duy của người dân về cách thức quản lý rủi ro trong chu kỳ sống; về chính sách bảo hiểm xã hội, đặc biệt là bảo hiểm xã hội tự nguyện (Báo cáo của Bảo hiểm xã hội thị xã Bến Cát, 2020).

Hoạt động của các công ty bảo hiểm chủ yếu thông qua đội ngũ tư vấn. Hoạt động tư vấn thiếu chuyên nghiệp đã tạo nên suy nghĩ sai lệch của người dân về bảo 2 hiểm. Người dân vẫn xem việc tham gia bảo hiểm như một kênh đầu tư tạo lợi nhuận, trong khi bản chất của bảo hiểm là phương thức giảm nhẹ rủi ro (Dương Thanh Khang, 2018). Công tác xã hội hướng tới hai mục tiêu cơ bản là nâng cao năng lực cho các nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn và cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cho đối tượng thực hiện các chức năng, vai trò của họ có hiệu quả.

CTXH với nhiệm vụ trợ giúp các cá nhân, gia đình, cộng đồng nhằm trang bị cho họ những kiến thức kỹ năng nhằm thực hiện tốt vai trò xã hội. Các hoạt động công tác xã hội giúp người dân tiếp cận các nguồn lực xã hội để họ tự đáp ứng nhu cầu, góp phần làm giảm những khác biệt về kinh tế xã hội giữa các thành viên và phòng chống các vấn đề có thể xảy ra, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Bùi Thị Xuân Mai, 2010). CTXH với các phương pháp chuyên nghiệp có thể giúp người dân phòng ngừa các rủi ro trong tương lai bằng việc hỗ trợ người dân tiếp cận các chính sách xã hội, trong đó có chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện. Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Thực trạng tham gia chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương”.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng tham gia chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động đang sinh sống tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm để thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; Xác định vấn đề lý luận nghiên cứu và các khái niệm cơ bản mà đề tài nghiên cứu.

Thưc hiện thu thập thu thập thông tin mô tả thực trạng tham gia chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tại tại thị xã Bến Cát. Thực hành phương pháp công tác xã hội nhóm vào hỗ trơ người lao động tham gia chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện. Tổng quan nghiên cứu của đề tài 3. Các nghiên cứu về chính sách an sinh xã hội Bài viết “Quản lý rủi ro xã hội: Cơ sở lý luận xây dựng hệ thống bảo đảm xã hội” cùa tác giả Holzmann, Robert năm 2003 đã nêu lên cách tiếp cận mới dựa trên khái niệm “quản lý rủi ro xã hội” của Ngân hàng thế giới.

Cách tiếp cận mới có thể được dùng đánh giá lại thực trạng của các hệ thống bảo đảm xã hội hiện có. Đây là cách tiếp cận tổng thể, toàn diện và đồng bộ. Cách tiếp cận này mang tính dự báo khả năng phát triển của hệ thống bảo đảm xã hội chủ yếu dựa trên tiêu chí tình trạng sống bấp bênh và tình trạng nghèo khổ. Ứng dụng khái niệm mới và thực tế một số nước đã cải cách thành công chính sách đảm bảo xã hội.

Từ khái niệm quản lý rủi ro xã hội bài viết gợi mở hai vấn đề cần tìm giải pháp là: “xây dựng cơ sở lý luận làm nền tảng cho sự vận hành của hệ thống bảo đảm xã hội, xây dựng và thực hiện các chính sách của nhà nước trong lĩnh vực này”. Từ cách tiếp cận theo khái niệm mới mở ra nhiều hướng nghiên cứu chính sách, định nghĩa lại chính sách thuộc lĩnh vực bảo đảm xã hội. Các chính sách cần được nghiên cứu để cân bằng được ba yếu tố: tính công bằng, bình đẳng; tính hiệu quả và khả năng được chấp nhận về mặt chính trị. Hành động trong lĩnh vực bảo đảm xã hội theo khái niệm quản lý rủi ro xã hội cần đảm bảo nguyên tắc tiếp cận tổng thể, toàn diện, giải pháp khả thi, huy động được sự tham gia của các bên; Thiết lập được sự cận bằng giữa ba chiến lược; Khai thác được lợi thế của các bên liên quan (Holzmann, 2003).

Theo Báo cáo Rủi ro Toàn cầu 2022 dựa trên kết quả Khảo sát Nhận thức Rủi ro Toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới, đã nêu lên các rủi ro trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Với ngắn hạn có các rủi ro “xói mòn liên kết xã hội”, “khủng hoảng sinh kế” và “suy giảm sức khỏe tâm thần”. Các rủi ro kinh tế như “khủng hoảng nợ” và “vỡ bong bóng tài sản” được xếp vào rủi ro trung hạn. Rủi ro địa chính trị và công nghệ cũng rất đáng lo ngại – bao gồm “đối đầu địa kinh tế”, “tranh chấp tài nguyên địa chính trị” và “thất bại an ninh mạng” là các rủi ro dài hạn.

Còn hai rủi ro về môi trường là “thời tiết khắc nghiệt” và “thất bại trong hành động khí hậu” là những rủi ro hàng đầu trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Nhà 4 nước cần có các chính sách công làm công cụ đối phó với các rủi ro, đảm bảo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển ổn định (Báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới, 2022). Nghiên cứu về chính sách công hai tác giả PGS. TS Nguyễn Hữu Hải và ThS.

Lê Văn Hòa năm 2013, đã có sách chuyên khảo “Đại cương về chính sách công”. Sách được chia làm 6 chương. Trong đó cung cấp kiến thức cơ bản, khái quát về chính sách công, các lý thuyết tiếp cận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ