Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn đang phát triển mạnh theo hướng thâm canh và quy mô công nghiệp với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp như Cargill, C.P. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi công nghiệp khiến lợn nái dễ gặp các trở ngại sinh sản do khả năng thích nghi suy giảm. Trong quá trình sinh sản, nái thường bị nhiễm các loại vi khuẩn như Streptococcus, Escherichia coli, dẫn đến bệnh viêm tử cung, hội chứng mất sữa hoặc bại liệt sau sinh, gây tổn hại trực tiếp đến năng suất sinh sản và tuổi thọ khai thác của đàn giống. Nhằm giải quyết các vấn đề kỹ thuật tại thực địa, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Thú y của tác giả Nguyễn Văn Huấn (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2023) đã thực hiện đề tài: "Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau khi đẻ nuôi tại cơ sở kinh doanh thuốc thú y Tuyên Quốc xã Bảo Lý huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 6 nội dung:

  1. Đánh giá được các tình hình, trạng thái và hình thức chăn nuôi tại cơ sở.
  2. Học hỏi tham gia vào quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái nuôi tại cơ sở thuốc thú y Tuyên Quốc trong thời gian thực tập tại đây.
  3. Góp phần giúp cơ sở nâng cao hiệu suất và chất lượng trong chăn nuôi.
  4. Nắm được thành thạo lịch tiêm phòng vắc xin.
  5. Tạo cho mình được kiến thức về chuyên môn cao, nâng cao tay nghề.
  6. Hoàn thành kỳ thực tập nghề nghiệp với kết quả tốt.

Yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 6 nhiệm vụ:

  1. Đánh giá quá trình chăn nuôi tại cơ sở thuốc thú y Tuyên Quốc, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Xác định tình hình nhiễm bệnh của đàn lợn nái đang và sau sinh sản của trại, áp dụng quy trình chăm sóc và phòng bệnh cho đàn lợn nái của trại.
  3. Tìm hiểu, áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng chống bệnh cho lợn nái.
  4. Chăm chỉ, chịu khó học hỏi kiến thức, kinh nghiệm qua đó nâng cao tay nghề bản thân.
  5. Nghiêm chỉnh chấp hành những quy định riêng tại cơ sở.
  6. Chăm chỉ tìm hiểu, học hỏi thực hành để nâng cao hiểu biết về kỹ thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái trong giai đoạn sinh sản (chờ phối, sau phối, mang thai, sau khi đẻ và nuôi con) cùng đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại Tuyên Quốc.
  • Không gian nghiên cứu: Trang trại chăn nuôi thuộc cơ sở kinh doanh thuốc thú y Tuyên Quốc, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Trang trại có tổng diện tích 50 ha (trong đó diện tích khu chuồng trại xây dựng khép kín là 5 ha).
  • Thời gian nghiên cứu: Theo dõi trực tiếp và thực nghiệm lâm sàng từ ngày 06 tháng 06 năm 2022 đến ngày 06 tháng 12 năm 2022; kết hợp điều tra, tổng hợp số liệu hồi cứu về cơ cấu đàn và năng suất chăn nuôi trong giai đoạn 3 năm (2020 – 2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý thuyết, tác giả hệ thống hóa các đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái dựa trên tài liệu chuyên khảo của Nguyễn Văn Thanh (2016), bao gồm cơ quan sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng chia 4 đoạn: tua diềm, phễu, phồng, eo; tử cung sừng kép với sừng dài 40 – 65 cm, thân dài 5 cm, cổ tử cung dài 10 cm có các cột thịt răng lược; âm đạo gồm 3 lớp mô) và bộ phận sinh dục bên ngoài (tiền đình, âm môn, âm vật). Về mặt bệnh học, khóa luận phân loại các thể viêm tử cung thành ba dạng chính:

  • Viêm nội mạc tử cung: Gồm thể có màng giả và thể sinh mủ cata cấp tính.
  • Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis): Xâm nhập sâu làm tổn thương mạch quản, hệ lâm ba, gây sốt cao và suy giảm tiết sữa.
  • Viêm tương mạc tử cung: Kế phát từ viêm cơ tử cung, làm lợn đau đớn dữ dội, rặn liên tục và cong lưng.

Cơ sở khoa học về vi sinh và dịch tễ được trích dẫn từ các công trình quốc tế và trong nước: Sobko và Gadenko (1978), Madec và Neva (1995), Urban và cộng sự (1983), Berstchinger (1993), Takaghi và cộng sự (1997) phân lập các chủng vi khuẩn gây bệnh như E. coli, Staphylococci, Streptococci, Klebsiella aerogenes, Pseudomonas spp. Tại Việt Nam, tác giả tiếp thu các kết luận của Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1985), Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), Khuất Văn Dũng (2005), Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), Trần Thị Dân (2004) về sự suy giảm hormone PGF2α do viêm tử cung làm tồn tại thể vàng thể hiện qua chu kỳ động dục bất thường.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp điều tra hồi cứu: Thu thập, tổng hợp số liệu chăn nuôi từ sổ theo dõi kỹ thuật của trại trong giai đoạn 2020 – 2022.
  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Quan sát trực tiếp, đo đếm các chỉ tiêu sinh lý gồm thân nhiệt (°C), tần số hô hấp (lần/phút), trạng thái dịch rỉ viêm và phản ứng đau trên $n = 10$ lợn nái khỏe mạnh đối chứng với $n = 10$ lợn nái mắc viêm tử cung.
  • Phương pháp dịch tễ học mô tả: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh theo mùa vụ ($n = 50$ nái/mùa), theo lứa đẻ ($n = 50$ nái/nhóm lứa: lứa 1, 2, 3, 4 và $\ge 5$), và theo giai đoạn sinh sản ($n = 55$ cá thể).
  • Phương pháp khảo sát dịch tễ trên đàn con: Đánh giá tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con sinh ra từ 7 nái bình thường đối chứng với đàn con của 7 nái bị viêm tử cung (tổng số 14 đàn).
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị lâm sàng: Phân chia 20 lợn nái mắc bệnh thành hai nhóm thử nghiệm tương đương ($n = 10$ con/nhóm) để so sánh hiệu quả giữa 2 phác đồ điều trị dùng các hoạt chất kháng sinh khác nhau (Genmox LA đối chứng với Ceftiofur kết hợp Oxytocin).
  • Phương pháp thống kê: Xử lý toàn bộ số liệu bằng phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel, sử dụng các công thức tính tỷ lệ nhiễm bệnh, tỷ lệ khỏi, tỷ lệ tái phát và thời gian điều trị trung bình.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Lời mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi hiện đại hóa. Sự gia tăng các bệnh lý đường sinh sản ở đàn nái nuôi nhốt quy mô lớn đòi hỏi các giải pháp giám sát dịch tễ và điều trị thích hợp. Nội dung chương nêu rõ 6 mục tiêu, 6 yêu cầu kỹ thuật và định hướng phương pháp tiếp cận trong 6 tháng thực tập nghề nghiệp tại cơ sở.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phú Bình (tổng diện tích 249,36 $\text{km}^2$, nhiệt độ trung bình năm 23,1 – 24,4°C, biên độ nhiệt giữa tháng nóng nhất đạt 28,9°C và tháng lạnh nhất là 15,2°C, lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, độ ẩm không khí 81 – 82%). Quy hoạch trại lợn Tuyên Quốc được ghi nhận có quy mô 50 ha (chuồng trại chiếm 5 ha, phần còn lại là vườn cây, ao hồ và công trình phụ trợ). Cơ sở vật chất gồm 1 chuồng chửa (nhốt 60 nái, trang bị 5 quạt hút và giàn mát), 1 chuồng đẻ (2 dãy gồm 14 ô nái đẻ và 6 ô lưu giữ sau cai sữa, sàn chuồng cách nền 40 cm với độ dốc thoát thải 25 – 30°), 2 chuồng lợn thịt, phòng pha chế và bảo quản tinh dịch, hệ thống xử lý chất thải bằng hầm biogas. Nhân sự trang trại gồm 15 người: 1 chủ trại, 1 quản lý, 2 kỹ thuật viên, 2 tổ trưởng (phụ trách chuồng bầu và chuồng đẻ) và 9 công nhân. Phần tổng quan tài liệu hệ thống hóa giải phẫu cơ quan sinh sản lợn nái, nhu cầu dinh dưỡng từng thời kỳ (như thức ăn lợn nuôi con MH119S với protein thô tối thiểu 17,5%, năng lượng trao đổi 3.200 kcal/kg, xơ thô tối đa 8,0%), đặc điểm chẩn đoán phân biệt 3 thể bệnh viêm tử cung, cùng lịch trình sát trùng chuồng trại định kỳ bằng vôi tôi và thuốc khử trùng.

Phần 3: Đối tượng thực hiện, nội dung và phương pháp tiến hành

Tác giả xác định đối tượng theo dõi là đàn nái sinh sản tại trại từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2022. Chương trình làm việc hàng ngày được cố định (buổi sáng 7h00 – 11h00, buổi chiều 14h15 – 17h00). Quy chuẩn hóa các bước thao tác kỹ thuật gồm kiểm tra nhiệt độ, khẩu phần ăn, đỡ đẻ, bấm nanh, cắt rốn, thiến lợn đực lúc 7 ngày tuổi, sát trùng chuồng trại và quy trình vô trùng tủ tia cực tím (UV). Chương 3 cũng nêu rõ công thức toán học tính toán các chỉ tiêu tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tỷ lệ chết, tỷ lệ tái phát và thời gian điều trị trung bình ngày/con.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 phản ánh các dữ liệu thực nghiệm và điều tra thực địa:

  • Thống kê chăn nuôi giai đoạn 2020 – 2022 cho thấy tổng đàn của trang trại có sự biến động: năm 2020 đạt 3.826 con, giảm xuống 3.745 con năm 2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, sau đó tăng lên 4.299 con vào năm 2022. Tỷ lệ nuôi sống lợn con tăng dần qua các năm: 96,80% (2020), 97,77% (2021) và 97,91% (2022).
  • Kết quả trực tiếp chăm sóc 54 lượt nái đẻ trong 6 tháng thực tập (tháng 6 đến tháng 11 năm 2022): Đỡ đẻ cho 905 lợn con sinh ra, nuôi sống đến cai sữa 862 con, đạt tỷ lệ sống trung bình 95,25%. Tháng 8 đạt tỷ lệ nuôi sống cao nhất (98,22%), trong khi tháng 10 đạt thấp nhất (91,34%) do ảnh hưởng thời tiết chuyển lạnh đột ngột và dịch tiêu chảy bùng phát. Khối lượng công việc phục vụ sản xuất (tra thức ăn, kiểm tra nước, vệ sinh sát trùng, rắc vôi, rửa máng) đều đạt tỷ lệ hoàn thành 100%.
  • Lập bảng lịch tiêm vắc xin cho nái hậu bị (từ tuần 1 đến tuần 8 với vắc xin dịch tả, LMLM, giả dại, khô thai, tai xanh), nái mang thai (tiêu chảy cấp PED lúc 77 ngày chửa, Rocovac trước đẻ 3 tuần phòng E. coli và Rotavirus) và lợn con.
  • Tỷ lệ mắc viêm tử cung theo mùa (năm 2022): Mùa hạ có tỷ lệ mắc cao nhất đạt 12% (6/50 con), mùa xuân đạt 6% (3/50 con), mùa thu và mùa đông ghi nhận thấp nhất với 2% (1/50 con mỗi mùa).
  • Tỷ lệ mắc theo lứa đẻ (năm 2022): Lứa 1 mắc 20% (10/50 con); lứa 2 giảm xuống 10% (5/50 con); lứa 3 là 6% (3/50 con); lứa 4 là 4% (2/50 con); từ lứa 5 trở lên tỷ lệ mắc tăng vọt lên 22% (11/50 con).
  • Tỷ lệ mắc theo giai đoạn sinh sản ($n = 55$ lượt khảo sát): Giai đoạn sau đẻ ghi nhận tỷ lệ cao nhất là 16% (8 con), trong khi giai đoạn chờ phối và sau phối đều ghi nhận mức 10% (2 con mỗi giai đoạn).
  • Khảo sát tiêu chảy đàn con: Đàn con sinh ra từ nái viêm tử cung có tỷ lệ mắc tiêu chảy lên đến 71,43% (5/7 đàn), cao hơn so với đàn con từ nái bình thường là 42,86% (3/7 đàn).
  • Biểu hiện lâm sàng: Lợn bệnh có thân nhiệt trung bình $39,84 \pm 0,35^\circ\text{C}$ (tăng $1,97^\circ\text{C}$ so với lợn khỏe $37,87 \pm 0,44^\circ\text{C}$); tần số hô hấp đạt $31,13 \pm 0,50$ lần/phút (tăng 17,92 lần/phút so với lợn khỏe $13,21 \pm 0,89$ lần/phút). Dịch rỉ viêm chảy ra có màu trắng xám hoặc hồng kèm mùi tanh, phản ứng đau xuất hiện rõ rệt.
  • Thử nghiệm quy trình phòng bệnh 3 bước và so sánh 2 phác đồ điều trị: Phác đồ 2 (thụt rửa T.Metrion, tiêm Oxytocin, Dipyhexin và Ceftiofur) đạt tỷ lệ khỏi 100%, thời gian điều trị trung bình ngắn ($3,18 \pm 0,41$ ngày/con) và tỷ lệ tái phát 0%. Phác đồ 1 (thụt rửa T.Metrion, tiêm Dipyhexin và Genmox LA) đạt tỷ lệ khỏi 90%, thời gian điều trị kéo dài $4,29 \pm 0,32$ ngày/con và tỷ lệ tái phát là 11,11%.

Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng hợp các kết luận dịch tễ chính và kiến nghị cơ sở chăn nuôi tiếp tục duy trì nghiêm ngặt an toàn sinh học, áp dụng đồng bộ quy trình phòng bệnh 3 bước, đồng thời đưa phác đồ điều trị số 2 vào thực tế sản xuất nhằm rút ngắn thời gian điều trị và ngăn ngừa tái phát bệnh.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng cụ thể các chỉ tiêu dịch tễ, lâm sàng và hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn nái tại thực địa:

Chỉ tiêu khảo sát Nhóm theo dõi Số lượng theo dõi Số ca mắc / khỏi Tỷ lệ (%)
Mắc theo mùa (2022) Mùa Xuân 50 con 3 con 6,00%
Mùa Hạ 50 con 6 con 12,00%
Mùa Thu 50 con 1 con 2,00%
Mùa Đông 50 con 1 con 2,00%
Mắc theo lứa đẻ (2022) Lứa 1 50 con 10 con 20,00%
Lứa 2 50 con 5 con 10,00%
Lứa 3 50 con 3 con 6,00%
Lứa 4 50 con 2 con 4,00%
Lứa $\ge 5$ 50 con 11 con 22,00%
Mắc theo giai đoạn Chờ phối Nhóm khảo sát ($n=55$) 2 con 10,00%
Sau phối Nhóm khảo sát ($n=55$) 2 con 10,00%
Sau đẻ Nhóm khảo sát ($n=55$) 8 con 16,00%
Tiêu chảy lợn con Đàn từ nái bình thường 7 đàn 3 đàn mắc 42,86%
Đàn từ nái viêm tử cung 7 đàn 5 đàn mắc 71,43%
Kết quả điều trị Phác đồ 1 (Genmox LA) 10 con điều trị 9 con khỏi 90,00% (thời gian $4,29 \pm 0,32$ ngày)
Phác đồ 2 (Ceftiofur) 10 con điều trị 10 con khỏi 100,00% (thời gian $3,18 \pm 0,41$ ngày)

Các giải pháp kỹ thuật do tác giả đề xuất:

  • Quy trình phòng bệnh tổng hợp 3 bước:
    • Bước 1: Vệ sinh sát trùng chuồng đẻ, lợn nái, đực giống trước/sau phối và đẻ; đảm bảo khẩu phần dinh dưỡng và cung cấp nước uống sạch; hỗ trợ đỡ đẻ đúng kỹ thuật, hạn chế tối đa việc can thiệp bằng tay.
    • Bước 2: Dùng thuốc phòng ngừa: Tiêm Enrofloxacine trước khi sinh ($20\text{ ml/con}$); ngay sau khi sinh tiêm bắp Oxytocin ($2\text{ ml/con}$) và Dexamethasone; khi sản dịch trở lại bình thường đặt viên Anti-gate (chứa Norfloxacine và Dexamethasone).
    • Bước 3: Đảm bảo kỹ thuật phối giống và vô trùng thiết bị phối.
  • Phác đồ điều trị chuẩn: Lựa chọn phác đồ 2 gồm thụt rửa tử cung bằng dung dịch T.Metrion ($100\text{ ml/con/ngày}$), kết hợp tiêm bắp Oxytocin ($2\text{ ml/con}$), tiêm thuốc chống viêm Dipyhexin ($1\text{ ml/10 kg}$ thể trọng/ngày) và kháng sinh Ceftiofur ($1\text{ ml/15 kg}$ thể trọng, tiêm cách ngày 1 lần, đủ 3 mũi).

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn: Số liệu thực địa của đề tài đã kiểm chứng nhận định của Khuất Văn Dũng (2005) về quy luật lứa đẻ: Tỷ lệ viêm tử cung ở nái hậu bị lứa 1 ở mức cao (20%) do đường sinh dục hẹp gây đẻ khó; giảm dần ở lứa 2 đến lứa 4 nhờ cơ quan sinh dục hoàn thiện; và tăng cao trở lại từ lứa 5 trở đi (22%) do trương lực cơ giảm, tử cung co bóp yếu làm chậm quá trình đào thải sản dịch. Đề tài cũng chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa viêm tử cung ở lợn mẹ với sự suy giảm số lượng, chất lượng sữa, làm tăng tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con từ 42,86% lên 71,43%. Việc áp dụng phác đồ 2 đã chứng minh ưu thế của kháng sinh nhóm $\beta$-lactam thế hệ mới (Ceftiofur) kết hợp cơ chế tống xuất dịch viêm của Oxytocin và tính sát khuẩn se niêm mạc của T.Metrion so với phác đồ truyền thống dùng Genmox LA.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thử nghiệm điều trị so sánh 2 phác đồ mới chỉ thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ gồm 20 lợn nái bệnh ($n = 10$ cho mỗi phác đồ), chưa đủ lớn để phân tích thống kê sâu về phương sai.
  • Đề tài chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy, phân lập định danh thành phần loài vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm; các kết luận về hiệu lực điều trị chủ yếu dựa trên theo dõi triệu chứng lâm sàng và đáp ứng với thuốc thực tế.
  • Khảo sát dịch tễ chỉ tiến hành trong phạm vi một trang trại chăn nuôi đơn lẻ (trại Tuyên Quốc) và thời gian theo dõi thực địa gói gọn trong 6 tháng (tháng 6 đến tháng 12 năm 2022).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng cỡ mẫu thử nghiệm điều trị trên nhiều trang trại có phương thức chuồng trại khác nhau để khẳng định tính ổn định của phác đồ Ceftiofur.
  • Triển khai kỹ thuật vi sinh học để phân lập các chủng vi khuẩn (E. coli, Streptococcus spp., Staphylococcus aureus, Klebsiella spp.) hiện diện trong dịch viêm tử cung của đàn nái tại địa phương và xác định phổ mẫn cảm kháng sinh cập nhật.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các giải pháp kỹ thuật xử lý chất thải chăn nuôi lỏng nhằm giảm thiểu áp lực mầm bệnh từ môi trường chuồng nuôi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp tài liệu thực tập thực địa, phương pháp thống kê sinh học xử lý số liệu sản xuất và quy trình chăm sóc hộ lý lợn nái các giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con.
  • Kỹ thuật viên trang trại và bác sĩ thú y cơ sở: Tham khảo trực tiếp quy trình can thiệp đỡ đẻ, quy trình thụt rửa tử cung, lịch tiêm phòng vắc xin cụ thể và phác đồ điều trị phối hợp (T.Metrion, Oxytocin, Dipyhexin, Ceftiofur).
  • Các nhà quản lý trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản: Cung cấp cơ sở khoa học để lập kế hoạch loại thải nái già (trên 5 lứa) nhằm giảm thiểu thiệt hại do bệnh đường sinh dục, đồng thời xây dựng quy trình an toàn sinh học tổng thể hạn chế hội chứng tiêu chảy kế phát ở lợn con theo mẹ.

Các phần đáng tham khảo nhất trong công trình:

  • Bảng số liệu phân tích mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung ở nái mẹ và tỷ lệ tiêu chảy trên đàn con.
  • Bảng đối chiếu các chỉ tiêu lâm sàng (thân nhiệt, tần số hô hấp, tính chất dịch viêm) giữa lợn khỏe và lợn bệnh.
  • Chi tiết thành phần, liều lượng và liệu trình của 2 phác đồ điều trị viêm tử cung tại thực địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Phác đồ điều trị số 2 có thành phần thuốc, liều lượng và hiệu quả điều trị thực tế như thế nào?
Phác đồ 2 có liệu trình 3 – 5 ngày, bao gồm: Thụt rửa tử cung trực tiếp bằng dung dịch T.Metrion liều $100\text{ ml/con/ngày}$; tiêm bắp Oxytocin liều $2\text{ ml/con}$; tiêm bắp Dipyhexin liều $1\text{ ml/10 kg}$ thể trọng/ngày; tiêm bắp Ceftiofur liều $1\text{ ml/15 kg}$ thể trọng, tiêm cách ngày 1 lần (đủ 3 mũi). Kết quả thử nghiệm trên 10 lợn nái mắc bệnh cho thấy tỷ lệ khỏi đạt 100%, thời gian điều trị trung bình là $3,18 \pm 0,41$ ngày/con và tỷ lệ tái phát bệnh là 0%.

2. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trang trại Tuyên Quốc biến động như thế nào theo lứa đẻ?
Theo số liệu theo dõi năm 2022 trên các nhóm nái ($n = 50$ con/nhóm): Lứa đẻ thứ 1 có tỷ lệ mắc cao ở mức 20% do đường sinh dục hẹp và đẻ khó. Ở các lứa đẻ tiếp theo, tỷ lệ mắc giảm dần: Lứa 2 đạt 10%, lứa 3 đạt 6%, lứa 4 đạt thấp nhất là 4%. Tuy nhiên, từ lứa đẻ thứ 5 trở đi, tỷ lệ mắc bệnh tăng vọt lên 22% do cơ tử cung bị giãn, co bóp yếu làm chậm tống thải sản dịch và sức đề kháng giảm sút.

3. Mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ và hội chứng tiêu chảy ở lợn con được ghi nhận bằng số liệu nào?
Khảo sát trên 14 đàn lợn con cho thấy: Đàn con sinh ra từ lợn nái bình thường có tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy là 42,86% (3/7 đàn mắc). Trong khi đó, đàn con sinh ra từ lợn nái bị viêm tử cung có tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy lên tới 71,43% (5/7 đàn mắc). Nguyên nhân do lợn mẹ bị sốt, viêm làm giảm tiết sữa hoặc mất sữa hoàn toàn, đồng thời làm biến đổi thành phần sữa mẹ khiến lợn con thiếu dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và rối loạn tiêu hóa.

4. Sự thay đổi về thân nhiệt và tần số hô hấp ở lợn nái mắc bệnh viêm tử cung so với lợn khỏe mạnh diễn ra ra sao?
Số liệu theo dõi trên 10 nái khỏe và 10 nái bệnh cho thấy: Lợn nái khỏe có thân nhiệt trung bình là $37,87 \pm 0,44^\circ\text{C}$ và tần số hô hấp là $13,21 \pm 0,89$ lần/phút. Ở lợn nái bị viêm tử cung, thân nhiệt tăng thêm $1,97^\circ\text{C}$, đạt mức trung bình $39,84 \pm 0,35^\circ\text{C}$; tần số hô hấp tăng thêm 17,92 lần/phút, đạt mức trung bình $31,13 \pm 0,50$ lần/phút.

5. Quy trình phòng bệnh viêm tử cung tổng hợp được xây dựng gồm những bước can thiệp chính nào?
Quy trình gồm 3 bước: Bước 1 thực hiện vệ sinh sát trùng sạch sẽ chuồng nuôi, lợn đực và lợn nái trước/sau phối và đẻ, cấp đủ nước sạch, đỡ đẻ đúng kỹ thuật và hạn chế can thiệp móc thai bằng tay; Bước 2 dùng kháng sinh Enrofloxacine ($20\text{ ml/con}$) trước khi sinh, tiêm bắp Oxytocin ($2\text{ ml/con}$) và Dexamethasone ngay sau đẻ, đặt viên Anti-gate (Norfloxacine + Dexamethasone) vào tử cung khi dứt sản dịch; Bước 3 đảm bảo kỹ thuật và điều kiện vô trùng tuyệt đối trong quá trình thụ tinh nhân tạo.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Huấn đã phản ánh tình hình dịch tễ của bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại cơ sở kinh doanh thuốc thú y Tuyên Quốc, chỉ ra tỷ lệ mắc cao tập trung vào mùa hè, ở lứa đẻ đầu tiên, lứa đẻ từ thứ 5 trở đi và giai đoạn sau sinh. Nghiên cứu đã chứng minh thực nghiệm mối liên hệ nhân quả giữa bệnh viêm tử cung ở nái mẹ với sự bùng phát hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ. Đồng thời, công trình khẳng định tính hiệu quả của quy trình phòng bệnh 3 bước và phác đồ điều trị kết hợp Ceftiofur với Oxytocin, mang lại các dữ liệu kỹ thuật có giá trị ứng dụng trực tiếp cho thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản.