Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi ở nước ta đã có từ rất lâu và đến nay thì ngày càng được quan tâm và chú trọng phát triển. Chăn nuôi đã cung cấp một sản lượng dồi dào và đa dạng cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu sang nước ngoài. Hơn nữa, nước ta còn có một vị trí địa lý, khí hậu, đất đai đặc biệt thích hợp cho việc chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn. Đã có rất nhiều những kế hoạch phát triển bền vững ngành chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi lợn nhằm tạo ra nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp nguyên liệu cho một số ngành (trồng trọt, chế biến…), giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân.
Thịt lợn là thực phẩm không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của chúng ta mà còn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người tiêu dùng. Thịt lợn chiếm 75-80% so với các loại thịt khác, không những thế thịt lợn còn chiếm 77% tổng lượng các hoạt động ngay trên thị trường. Để giải quyết bài toán làm sao để đáp ứng đủ nhu cầu cho người tiêu dùng, Nhà nước ta đang hết sức chú trọng đến công tác phát triển chăn nuôi lợn. Để chú trọng việc chăn nuôi lợn có hiệu quả làm sao có đàn con làm giống tốt nhất và để nuôi lợn thịt nhanh, nhiều nạc thì các nhà khoa học đã nghiên cứu và cho lai tạo những giống lợn nội và lợn ngoại có thể vóc lớn và sinh trưởng nhanh.
Đồng thời, do quy mô chăn nuôi lợn của nước ta vẫn còn nhỏ lẻ và có tính tự phát cao nên việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, kỹ thuật chăm sóc tiên tiến cần được chú trọng. Cần áp dụng các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tiên tiến, áp dụng các khẩu phần ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, chế biến thức ăn có chất lượng cao với các loại thức ăn thay thế hay thức ăn bổ sung trong mô hình chăn nuôi lợn. Bên cạnh đó, phát triển chăn nuôi lợn không chỉ áp dụng các quy trình tiên tiến 2 mà khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh là rất quan trọng. Để góp phần nâng cao cả về số lượng và chất lượng của đàn lợn; để đảm bảo lợn con sinh trưởng nhanh, khỏe mạnh và cung cấp con giống có chất lượng tốt cần có đội ngũ kỹ thuật có chuyên môn cao.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Bệnh ở lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai nuôi tại trại lợn thuộc công ty De Hues, xã nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Thực hiện quy trình chăm sóc và phòng trị những triệu chứng của lợn khi mắc bệnh. - Đánh giá tình hình dịch bệnh, các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái để kịp thời phát hiện những con lợn ốm và mắc bệnh.
- Đưa ra phương pháp điều trị và đánh giá kết quả điều trị bệnh. - Học tập, bổ sung kiến thức nâng cao được tay nghề, thành thạo về chẩn đoán, điều trị bệnh, dùng thuốc chính xác, có hiệu quả của bản thân. Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Bích Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. - Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại.
- Thực hiện được công tác vệ sinh phòng bệnh và điều trị bệnh cho lợn của trại. - Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản, đồng thời học tập và bổ sung những kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý: xã Nghĩa Đạo là xã nông nghiệp nằm ở phía Nam huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, có đường quốc lộ 38 chạy qua xã. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 725 ha. - Phía Đông giáp huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. - Phía Tây giáp huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên.
- Phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. - Phía Bắc giáp xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Xã cách thị trấn Hồ huyện Thuận Thành 7 km. Vị trí của xã khá thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế do xã chỉ cách thành phố Bắc Ninh 25 km về phía Bắc, còn phía Nam thì giáp thành phố Hải Dương 30 km, đặc biệt theo quốc lộ 282 chỉ cách Hà Nội 30 km.
Là xã nằm giáp ranh ba tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên nên xã Nghĩa Đạo có đủ điều kiện phát triển cả về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ. * Khí hậu: do nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 04 đến tháng 10, hướng gió chủ đạo theo hướng Đông Nam; mưa tập trung vào các tháng 07, 08, 09; lượng mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm. Từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau sẽ là mùa khô, thường có mưa phùn cộng với giá rét kéo dài vào tháng 01 và tháng 02 do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh, gió chủ đạo theo hướng Đông Bắc.
* Lượng mưa: mùa mưa kéo dài từ tháng 05 đến tháng 10 tập trung 84% lượng mưa cả năm. Tổng lượng mưa trung bình là 1332 mm, số ngày mưa trung 4 bình là 145 ngày. Lượng mưa đạt cực đại vào tháng 7, lượng mưa tăng dần đầu mùa đến giữa mùa. 6 tháng còn lại là mùa khô, mưa ít, lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm 26% tổng lượng mưa cả năm.
Tháng 12 là tháng mưa cực tiểu với 11 - 18 mm, lượng mưa trung bình tháng cao nhất là 254,5 mm. Cơ cấu tổ chức của trang trại Trại gồm 1 chủ trại và 24 người 01 quản lý trại (Kiêm phụ trách tổ chuồng bầu). 02 kỹ thuật công ty De Heus (1 kỹ thuật phụ trách chính tổ chuồng đẻ, 1 kỹ thuật phụ trách chuồng thịt và cai sữa). 09 sinh viên thực tập.
01 bác nhà bếp Với số lượng đội ngũ trên, trại phân ra 3 tổ gồm tổ chuồng bầu, tổ chuồng đẻ, tổ chuồng cai sữa và lợn thịt. Mỗi tổ sẽ được chia ra các chuồng nhỏ trong quy trình chăn nuôi đều được khoán đến từng công nhân và sinh viên, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại. Cơ sở vật chất của trang trại - Trang trại có tổng diện tích 24,896 m2 gồm: khu chuồng chăn nuôi, khu nhà ở, ao cá, hầm biogas và các công trình phụ khác và khu trồng rau phục vụ cho công nhân tại trại. - Những điều kiện phục vụ sản xuất được trại cung cấp gồm: Đảm bảo có chỗ ăn, ở, nghỉ ngơi riêng cho công nhân và sinh viên.
Thức ăn cung cấp cho trang trại: trang trại dùng thịt lợn và một số rau xanh nuôi trồng tại trại. Thức ăn phụ trại đi mua. Tại trại không cho mang các loại thịt tươi sống vào trại đặc biệt là thịt lợn để tránh mang bệnh lẫn vào trại. 5 Sinh viên khi thực tập tại trang trại sẽ được sẽ được tổ trưởng, cán bộ kỹ thuật hướng dẫn làm tất cả các công việc tương tự như công nhân trong trại.
Đồng thời, ngoài việc được thực hành các công việc thì sinh viên còn được các cán bộ kĩ thuật truyền tải và hướng dẫn chuyên sâu về các bệnh thường gặp và một số kinh nghiệm làm việc trong trại và ngoài xã hội. Đồ bảo hộ lao động trên 1 người là 2 bộ quần áo bảo hộ cộng với 1 đôi ủng. Đồ dùng cá nhân và đồ dùng sinh hoạt cũng được trại cung cấp đầy đủ. - Trang trại chia làm 2 khu vực chính là: khu chăn nuôi và khu sinh hoạt cho công nhân và kĩ thuật.
Trong đó khu sinh hoạt cho công nhân và kĩ thuật gồm có: từ cổng ra vào trại là khu phòng điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại, kế toán trại và phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà bếp, nhà ăn, các khu phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm. Ngoài ra trại có một khu đất trống làm sân bóng phục vụ nhu cầu thể dục thể thao cho công nhân. Khu sản xuất chia làm 2 khu riêng biệt gồm: gồm khu chuồng lợn nái, khu chuồng thịt và sau cai sữa đều có lối đi và cổng ra vào riêng biệt tất cả đường đi lại giữa các khu và các ô chuồng đều được đổ bê tông, giữa các khu chuồng đều có hố sát trùng bằng vôi. + Chuồng nái gồm dãy chuồng lợn bầu và lợn đẻ.
Từ cổng vào, bên trái là hệ thống chuồng đẻ: gồm 9 chuồng, mỗi chuồng có 2 dãy, tổng cả 2 dãy gồm 32 ô chuồng. Các ô đều được đánh dấu để dễ nhận biết và ghi nhớ. Hệ thống khung làm bằng inox không rỉ, có các khung được hàn thêm để giảm thiểu lợn mẹ đè lên lợn con và sàn lợn mẹ được làm bằng bê tông, sàn lợn con được làm bằng nhựa cứng và có thể dễ dàng tháo, vệ sinh, khử trùng. Phần chuồng của lợn con khá rộng rãi để lợn tự do chơi đùa, một 6 góc chuồng để lồng úm, lồng úm làm bằng khung sắt bao quanh được khâu bởi các vỏ bao đựng cám đã được vệ sinh sát trùng sạch sẽ.
Mỗi lồng úm sẽ có một bóng đèn sưởi ấm với công suất bóng là 175-250 w tùy vào từng mùa, bên ngoài là một máng nhựa hoặc máng cao su để tập ăn cho lợn con. Trong mỗi chuồng có 2 vòi uống cho lợn nái và lợn con theo mẹ với kích thước và chiều cao vời phù hợp với từng đối tượng riêng, chiều cao tương ứng cho lợn mẹ và lợn con lần lượt là 40 cm và 10 cm so với bề mặt sàn nhựa. Từ trên nhìn xuống, đầu chuồng được lắp đặt hệ thống dàn mát và cuối chuồng được lắp đặt 2 quạt thông gió có tác dụng điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi. Ngoài ra mỗi chuồng còn được lắp đặt thêm cửa sổ, hệ thống điện, nước và chiếu sáng.
Bên phải là hệ thống chuồng bầu với 1 chuồng chính được lắp đặt 6 dãy, mỗi dãy gồm 45 ô, kích thước 2,4 m×0,65 m/ô, các ô chuồng đều có vòi uống tự động cao 50-55 cm.