Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong đó ngành chăn nuôi lợn là một trong những ngành chiếm vị trí quan trọng. Nó đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Từ khi ngành chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Từ đó làm cho số lượng lợn tăng rất nhanh chóng.
Để đảm bảo cho lợn sinh trưởng phát triển tốt đem lại hiệu quả kinh tế cao thì công tác phòng chống dịch bệnh rất được quan tâm kể từ khi sơ sinh đến lúc trưởng thành. Tuy nhiên trong chăn nuôi cũng không thể tránh được một số bệnh thường xuyên xảy ra. Nhất là giai đoạn lợn con tách mẹ vì giai đoạn này lợn con rất mẫn cảm với mọi kích thích của ngoại cảnh, bệnh tiêu chảy rất dễ xảy ra và khi xảy ra nó sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con. Nếu không chữa trị kịp thời lợn sẽ chết rất nhanh gây thiệt hại đến ngành chăn nuôi.
Từ thực tế trên để đánh giá tình hình nhiễm khuẩn gây nên bệnh tiêu chảy và khả năng mẫn cảm của lợn con giai đoạn sau cai sữa. Nhằm đề ra các biện pháp phòng trị hạn chế phát sinh bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc tiêu chảy trên đàn lợn từ sau cai sữa đến hai tháng tuổi tại Công ty TNHH MTV lợn giống Lạc Vệ, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và thử nghiệm hai phác đồ điều trị”. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm ra nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy của lợn con sau cai sữa; e 2 - Điều tra tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con sau cai sữa; - So sánh hiệu quả của hai loại thuốc Genorfcoli và Enrotril-50; - Xác định phương pháp phòng và chữa bệnh tiêu chảy của lợn con sau cai sữa; - Đưa ra phác đồ điều trị đạt kết quả và mang lại hiệu quả kinh tế nhất. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Đề tài nghiên cứu về tình hình mắc tiêu chảy của lợn con sau cai sữa có ý nghĩa khoa học là hiểu được các nguyên nhân dẫn đến bệnh; - Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học rất cao là hiểu được vi sinh vật gây bệnh tiêu chảy cho lợn con sau cai sữa; - Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học là tìm ra được mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường gây nên tiêu chảy cho lợn con sau cai sữa. Ý nghĩa trong thực tiễn. - Đưa ra được biện pháp phòng và trị cho lợn con sau cai sữa mắc tiêu chảy có hiệu quả tốt, đã giúp cho người dân chăn nuôi lợn tin tưởng và vững lòng đầu tư cho chăn nuôi; - Học hỏi kiến thức, kinh nghiệm, tập quán chăn nuôi hợp lý để bổ sung thêm kiến thức cho mình; - Vận dụng tốt kiến thức đã học vào công tác phục vụ sản xuất và phòng trị bệnh đàn lợn tại Công ty. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của lợn con Đối với chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi lợn con nói riêng, lợn con khi tách mẹ nếu được chăm sóc tốt lợn con sẽ khỏe mạnh. Trong vòng 20 ngày đầu sau khi lợn con cai sữa, từ chỗ lợn con đang phụ thuộc vào lợn mẹ và thức ăn bổ sung, khi cai sữa lợn con phải sống độc lập và tự lấy dinh dưỡng từ bên ngoài để nuôi cơ thể. Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [3] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, thì lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh. Đặc biệt là các tổ chức như xương, cơ bắp và bộ máy tiêu hóa, cũng như cơ năng hoạt động của nó. Sức đề kháng của lợn con còn kém, nhạy cảm với các yếu tố của môi trường xung quanh làm cho lợn con dễ nhiễm bệnh tật, đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa. Lợn con sống độc lập nên thường xảy ra hiện tượng nhớ mẹ, nhớ đàn, và có thể cắn xé lẫn nhau để tranh dành thứ bậc trong đàn.
Đặc điểm sinh lý của lợn con * Cấu tạo và dung tích của đường tiêu hoá Khi nghiên cứu sự phát triển đường tiêu hoá của lợn, nhiều tác giả đi đến kết luận: Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh hơn các cơ quan khác. e 4 Cơ quan tiêu hoá của lợn con khi còn trong bào thai đã hình thành đầy đủ nhưng dung tích còn nhỏ. Lợn con 1 ngày tuổi, dạ dày nặng 4 - 5 gram, có thể chứa 25 - 40 gram sữa, ruột non nặng 40 - 50 g, dài 3,5 - 4 m, có thể chứa 100 - 110 gram sữa. Lúc 10 ngày tuổi, dạ dày tăng gấp 3 lần (cả khối lượng và thể tích), 20 ngày tuổi nặng gấp 8 lần, dung tích ruột non tăng gấp bội, ruột già cũng tăng mạnh.
Ở 60 ngày tuổi, dạ dày và ruột non tăng gấp 60 lần lúc sơ sinh. * Đặc điểm tiêu hóa ở dạ dày Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [18], lợn con dưới 1 tháng tuổi thì trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do. Lúc này lượng acid ít, nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tượng này gọi là hypoclohydric và là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá ở dạ dày lợn con.
Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày nếu gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển và gây bệnh ở đường tiêu hoá của lợn con như bệnh tiêu chảy. Cũng do thiếu HCl tự do nên trong giai đoạn này men pepsin không hoạt động, khả năng tiêu hoá thuộc về men lipaza và kimuzin. Hai men này tăng dần từ lúc sơ sinh đến 3 tuần tuổi sau đó giảm dần, bù vào đó là men pepsin đã có khả năng hoạt động và tiết ra tăng dần. Sức tiêu hoá của dịch vị tăng dần theo tuổi một cách rõ rệt.
Khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh nhất, dịch vị thu được khi cho ăn thức ăn hạt chứa nhiều HCl hơn và sức tiêu hoá nhanh hơn dịch vị khi cho ăn. Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn cho lợn con, vì nó rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. * Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở ruột non Phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu hoá được protein của gạo, bột cá… e 5 Lợn con lúc 20 - 30 ngày tuổi lượng dịch tụy phân tiết trong một ngày là 150 - 300 ml. Sự phân tiết dịch tụy tăng theo tuổi: Ở 40 ngày tuổi là 460 ml, 3 tháng tuổi là 3 - 5 lít và 7 tháng tuổi là 10 lít.
Trong thời gian thiếu HCl, hoạt tính của dịch tụy rất cao bù lại khả năng tiêu hoá kém của dạ dày. Tác dụng của dịch mật đối với lợn con: dịch mật xúc tiến tiêu hoá lipit trong sữa tương đối thấp đối với saccaroza, mantoza và tăng cường nhu động ruột. Bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật lại rất kém. Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống… và có các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh đường tiêu hoá cho lợn con (giữ ấm, ổn định ẩm độ, tiêm phòng…).
* Đặc điểm về cơ quan điều tiết thân nhiệt Cơ quan điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì trung khu điều tiết thân nhiệt nằm ở dưới vỏ đại não, mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả hai giai đoạn trong thai và ngoài thai. Do đó việc điều tiết thân nhiệt kém, năng lực phản ứng yếu dễ bị ảnh hưởng bởi khí hậu nóng ẩm và lạnh ở bên ngoài. Lợn con trong thời kỳ này nếu nuôi trong chuồng nuôi có nhiệt độ thấp, ẩm độ tương đối cao sẽ làm thân nhiệt lợn con giảm xuống nhanh. Do đó, nếu chăm sóc không tốt lợn dễ còi cọc và chết đặc biệt vào mùa đông khi thời tiết mưa phùn lợn con dễ mắc bệnh về đường tiêu hóa, đặc biệt là bệnh tiêu chảy.
Mặt khác, do lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dữ trữ trong cơ thể thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt cho cơ thể để chống rét còn hạn chế. Vì vậy, phải tạo mọi điều kiện thích hợp trong quá trình sinh sản để lợn con không bị thay đổi nhiệt độ đột ngột lúc vận chuyển sang chuồng cai sữa. Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con. Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh.
Độ ẩm thích hợp của lợn con ở nước ta là 56 - 70%. e 6 * Khả năng miễn dịch của lợn con Khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh. Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng kém.
Do vậy, các mầm bệnh như E. coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh. Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, Profecdin và Lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém. Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều Globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh.
Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều Globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 - 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên.