Luận án bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn việt nam

Tài liệu chuyên sâu Bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức ở nông thôn Việt Nam, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

183
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức

1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài liên quan đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức

1.1.2. Các đóng góp và khoảng trống nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã tổng quan

1.1.3. Hướng nghiên cứu của luận án

1.1.4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án

1.1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án

1.1.6. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận án

1.1.7. Cách tiếp cận nghiên cứu đề tài

1.1.8. Khung phân tích của luận án

1.1.9. Nguồn dữ liệu

1.1.10. Phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN

2.1. Tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn

2.2. Tín dụng chính thức và đặc điểm giới trong tiếp cận tín dụng chính thức

2.3. Hộ gia đình ở nông thôn trong tiếp cận tín dụng chính thức

2.4. Bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng

2.5. Bình đẳng giới và bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn

2.6. Ảnh hưởng của tình trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức đến phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn

2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn

2.8. Vai trò của nhà nước và các bên liên quan đến giảm thiểu bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức đối với các hộ gia đình ở nông thôn

2.8.1. Vai trò của nhà nước đối với giảm thiểu bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn

2.8.2. Vai trò của các bên liên quan khác trong giảm thiểu bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn

2.9. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về giảm thiểu bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn và bài học cho Việt Nam

2.9.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về giảm thiểu bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn

2.9.2. Một số bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm giảm bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của một số nước trên thế giới

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM

3.1. Khái quát chung về thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam

3.2. Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam qua các chỉ số

3.3. Khái quát chung về thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam (qua số liệu vĩ mô)

3.4. Phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam (Theo cách tiếp cận vĩ mô)

3.4.1. Thể chế chính thức

3.4.2. Thể chế phi chính thức

3.4.3. Thị trường

3.4.4. Hộ gia đình

3.5. Thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam (Theo cách tiếp cận vi mô)

3.6. Kết quả mô hình Logistic về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam

3.7. Các yếu tố tác động đến bất bình đẳng giới trong giá trị tín dụng chính thức được vay của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam

3.8. Đánh giá chung về thực trạng các yếu tố tác động đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam

3.8.1. Các thành quả chủ yếu đạt được

3.8.2. Một số hạn chế

3.8.3. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM GIẢM BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh và triển vọng giảm thiểu bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam thời kỳ tới năm 2030

4.1.1. Bối cảnh và triển vọng của thế giới

4.1.2. Bối cảnh và triển vọng ở Việt Nam

4.2. Quan điểm, định hướng cải thiện bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam

4.3. Một số khuyến nghị hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam thời kỳ tới

4.3.1. Khuyến nghị đối với nhà nước

4.3.2. Khuyến nghị đối với chính quyền địa phương ở nông thôn

4.3.3. Khuyến nghị đối với các tổ chức tín dụng

4.3.4. Khuyến nghị đối với cộng đồng

4.3.5. Khuyến nghị đối với hộ gia đình

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.4. Hạn chế và kiến nghị

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức

Bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức là một vấn đề nghiêm trọng ở nông thôn Việt Nam. Bất bình đẳng giới không chỉ ảnh hưởng đến quyền tiếp cận tài chính mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế của hộ gia đình. Theo thống kê, phụ nữ thường gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận tín dụng chính thức so với nam giới. Điều này dẫn đến việc phụ nữ không thể đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập của họ. Nghiên cứu cho thấy rằng, nếu phụ nữ được tiếp cận tín dụng bình đẳng với nam giới, năng suất nông nghiệp có thể tăng từ 20-30%. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống của phụ nữ mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của nông thôn.

1.1. Tình trạng tiếp cận tín dụng của phụ nữ nông thôn

Phụ nữ nông thôn thường bị hạn chế trong việc tiếp cận tín dụng chính thức do nhiều yếu tố như thiếu tài sản thế chấp, thiếu thông tin và các rào cản văn hóa. Theo một nghiên cứu, chỉ có 30% phụ nữ nông thôn có khả năng tiếp cận tín dụng, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 50%. Điều này cho thấy sự phân biệt giới trong tiếp cận tín dụng vẫn tồn tại. Các chính sách hiện tại chưa đủ mạnh để hỗ trợ phụ nữ trong việc tiếp cận tài chính. Cần có những biện pháp cụ thể để giảm thiểu bất bình đẳng giới trong lĩnh vực này.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng, bao gồm yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa. Phụ nữ thường phải chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc gia đình, điều này làm giảm thời gian và khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế. Hơn nữa, các tổ chức tín dụng thường có xu hướng cho vay nhiều hơn cho nam giới, dẫn đến việc phụ nữ không thể tiếp cận đủ nguồn lực cần thiết. Các chính sách chính sách tín dụng cần được điều chỉnh để đảm bảo rằng phụ nữ có thể tiếp cận tài chính một cách công bằng.

II. Thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức ở nông thôn Việt Nam

Thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức ở nông thôn Việt Nam đang ở mức báo động. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ phụ nữ tiếp cận tín dụng chính thức chỉ đạt khoảng 25%, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 55%. Điều này cho thấy sự phân biệt rõ rệt trong việc tiếp cận tài chính. Phụ nữ thường phải đối mặt với nhiều rào cản như thiếu thông tin, thiếu tài sản thế chấp và các quy định pháp lý không thuận lợi. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế của hộ gia đình.

2.1. Các chỉ số đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới

Các chỉ số đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa nam và nữ. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, phụ nữ thường phải vay với lãi suất cao hơn và số tiền vay thấp hơn so với nam giới. Điều này không chỉ làm giảm khả năng đầu tư của phụ nữ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nông thôn. Cần có các biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, bao gồm việc tăng cường giáo dục tài chính cho phụ nữ và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ trong việc tiếp cận tín dụng.

2.2. Tác động của bất bình đẳng giới đến phát triển kinh tế hộ gia đình

Bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế hộ gia đình. Khi phụ nữ không thể tiếp cận đủ nguồn lực tài chính, họ không thể đầu tư vào sản xuất, dẫn đến năng suất thấp và thu nhập không ổn định. Nghiên cứu cho thấy rằng, nếu phụ nữ được tiếp cận tín dụng bình đẳng, thu nhập của hộ gia đình có thể tăng lên đáng kể. Điều này không chỉ cải thiện đời sống của phụ nữ mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của nông thôn.

III. Giải pháp giảm bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức

Để giảm bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức, cần có những giải pháp đồng bộ từ chính phủ và các tổ chức tín dụng. Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế. Các chương trình đào tạo về tài chính cho phụ nữ cần được triển khai rộng rãi để giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và cách thức tiếp cận tín dụng. Hơn nữa, các chính sách tín dụng cần được điều chỉnh để đảm bảo rằng phụ nữ có thể tiếp cận tài chính một cách công bằng.

3.1. Đề xuất chính sách hỗ trợ phụ nữ

Chính phủ cần xây dựng các chính sách hỗ trợ phụ nữ trong việc tiếp cận tín dụng chính thức. Các chương trình cho vay ưu đãi dành riêng cho phụ nữ có thể giúp họ vượt qua những rào cản tài chính. Hơn nữa, cần có các quy định pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong lĩnh vực tín dụng. Việc tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi sẽ giúp phụ nữ tự tin hơn trong việc tiếp cận tài chính.

3.2. Tăng cường hợp tác giữa các tổ chức tín dụng và cộng đồng

Các tổ chức tín dụng cần hợp tác chặt chẽ với cộng đồng để hiểu rõ hơn về nhu cầu và khó khăn của phụ nữ trong việc tiếp cận tín dụng. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tư vấn tài chính sẽ giúp phụ nữ có thêm thông tin và cơ hội tiếp cận tín dụng. Hơn nữa, các tổ chức tín dụng cần có các sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu của phụ nữ, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc vay vốn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài liên quan đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài về bất bình đẳng giới (i) Báo cáo “Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói” của ngân hàng thế giới 2001.

Nghiên cứu này đã tổng hợp các nghiên cứu đa ngành về vấn đề giới. Báo cáo đã đưa ra: (a) Khái niệm về bình đẳng và bất bình đẳng giới; (b) thực trạng phân biệt giới tính theo các khía cạnh trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển; (c) vai trò của các thể chế chính thức (luật pháp) các thể chế phi chính thức (phong tục tập quán, văn hóa) đối với vấn đề bình đẳng giới. Báo cáo phát triển thế giới với chủ để “Bình đẳng giới và phát triển” của Ngân hàng thế giới (2012) [126] đã đưa đưa ra 3 khía cạnh đánh giá bình đẳng và bất bình đẳng giới: (a) Sự tích tụ năng lực (sức khỏe, học hành, tài sản vật chất); (b) Việc sử dụng năng lực để nắm bắt các cơ hội kinh tế và tạo thu nhập; (c) Việc sử dụng các năng lực được tích tụ đó để tác động đến quyền lợi của các nhân và hộ gia đình. Báo cáo đã đánh giá những bước tiến trong việc giảm 6 bất bình đẳng giới, đồng thời cũng chỉ ra những khía cạnh bất bình đẳng giới còn tồn tại và lựa chọn chính sách tập trung giải quyết nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực ưu tiên.

(iii) Ngân hàng thế giới khu vực Đông Á và thái Bình Dương Báo cáo đã nghiên cứu chi tiết các khía cạnh bất bình đẳng giới ở khu vực Đông Á và thái Bình Dương từ đó đưa ra cơ sở hoạch định chính sách mang tính đặc trưng cho khu vực này. (iv) Báo cáo “Phụ nữ trong nông nghiệp, thu hẹp khoảng cách về giới cho phát triển” Báo cáo đã đưa ra: (a) Khái niệm về giới; (b) Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp; (c) Thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực sản xuất; (d) Ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong đối với năng suất sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh một số nghiên cứu mang tính tổng quát thì có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh cụ thể như: nghiên cứu tác động của bất bình đẳng giới tới tăng trưởng kinh tế: “Các nguồn lực tăng trưởng kinh tế”; Bất bình đẳng giới trong thu nhập và tăng trường; “Tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế ở các nước đăng phát triển”; Tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục tới tăng trưởng kinh tế; tác động của bất bình đẳng giới trong việc làm tới tăng trưởng kinh tế. (v) Như vậy, các nghiên cứu nói trên đã cung cấp: (a) các khái niệm, định nghĩa, quan điểm, tiêu chí đánh giá về bất bình đẳng giới; (b) đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trên một số khía cạnh ở góc độ quốc gia, khu vực, quốc tế; (c) đánh giá mối quan hệ bất bình đẳng giới và tăng trưởng, phát triển kinh tế; (d) các nhân tố tác động tới bất bình đẳng giới.

Các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn (i) Dịch vụ tài chính là một công cụ quan trọng để nâng cao năng suất. Dịch vụ tài chính thúc đẩy sự phân bổ hiệu quả hơn các nguồn lực giữa các nơi dư thừa và thiếu hụt tài nguyên trong nền kinh tế; dịch vụ tài chính giúp trao đổi hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn, giảm thiểu rủi ro hơn. Đối với các cá nhân có ít tài sản, tiếp cận tài chính làm cho nó có thể: (a) tiêu thụ hàng hóa thuận tiện hơn; (b) cải thiện được công nghệ do đó có thể tăng năng suất; (c) có được vốn lưu động để có được đầu vào sản xuất một cách kịp thời, và (d) tận dụng cơ hội thị trường [49]; [55]; [60]. (ii) Bất bình đẳng giới trong việc trong tiếp cận tín dụng chính thức chưa được nghiên cứu sâu, rộng như bất bình đẳng ở một số lĩnh vực khác như bất bình bình đẳng chủng tộc, bất bình đẳng trong giáo dục, thu nhập, lý do cho sự khan hiếm của nghiên cứu về chủ đề này có thể là do giới hạn về mặt dữ liệu.

Tuy nhiên, trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này như các nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng. Các nghiên cứu được thực hiện ở các khu vực khác nhau với các phương pháp khác nhau thì đưa ra một số kết quả khác nhau. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển, trong đó họ chiếm một phần lớn trong lao động sản xuất cho cây lương thực và cây công nghiệp [89]; và đồng thời họ quản lý các lĩnh vực riêng của họ [90]; [91];[100];[107]; [108]; [109]. Tuy nhiên, họ lại bị phân biệt đối xử trong thị trường tín dụng, phụ nữ đôi khi không thể có tài khoản ngân hàng hoặc không tự thực hiện được các hợp đồng tài chính vì các rào cản pháp lý và các quy tắc văn hóa.

Ngoài ra, họ bị hạn chế trong việc kiểm soát tài sản thế chấp – một trong những điều kiện quan trọng trong để được vay tiền. Hơn thế nữa, các tổ chức tín dụng thường hạn chế phụ nữ trong việc cận tín dụng hoặc là cho vay với lượng 8 vốn nhỏ hơn so với nam giới trong cùng một điều kiện [90]; [91];[100];[107]; [108]; [109]. (iii) Hầu hết các nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng ở châu Phi đều chỉ ra phụ nữ hạn chế hơn so với nam giới trong việc tiếp cận tín dụng đặc biệt là tín dụng chính thức, điều đó thể hiện qua các bằng chứng thực tế khác nhau. Ví dụ ở Nigeria, 14% nam giới được tiếp cận tín dụng trong khi đó chỉ có 5% nữ giới được tiếp cận; ở Kenya, tỷ lệ nam giới được tiếp cận tín dụng là 14% , tỷ lệ nữ giới tiếp cận tín dụng là 4%, kết quả hỗn hợp về việc bất bình đẳng trong tiếp cận tín dụng ở khu vực đông Á [119], [120].

Nghiên cứu khác của [90]; [91] ở Mỹ Latin cũng chỉ ra rằng phụ nữ hạn chế trong việc tiếp cận tín dụng hơn so với nam giới khi họ cùng điều kiện kinh tế- xã hội tương đương nam giới. (iv) Các nghiên cứu ở châu Phi chỉ ra rằng như hầu hết các nước đang phát triển, phụ nữ ở vùng cận Sahara châu Phi (SSA) thường có một trách nhiệm không cân xứng về phúc lợi của gia đình họ và phụ nữ nghèo là đối tượng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức. Điều này xuất phát từ vị thế của họ trong hộ gia đình, họ bị hạn chế trong việc tiếp cận, sử dụng các tài sản. Tài sản đảm bảo là một trọng những yếu tố quan trọng để đảm bảo được tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức.

Hầu hết đàn ông trong gia đình có quyền kiểm soát các tài sản có thể bán được có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp để tiếp cận các dịch vụ tài chính. Do đó, tiếp cận tài sản tư đó có thể tiếp cận với tài chính vi mô cho phụ nữ là rất quan trọng để giảm nghèo và trao quyền cho phụ nữ. Tương tự như các nghiên cứu khác ở Châu Phi Ogunlela, Y., 2009 [119] đã đưa ra bằng chứng rằng phụ nữ ở Nigeria bị hạn chế hơn so với nam giới trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất, trong đó có tiếp cận tín dụng chính thức, so với phụ nữ, đàn ông đã thu được khoảng 80% tín dụng chính thức hơn. 9 (v) Ở các khu vực khác như Mỹ Trong nghiên cứu của Bewley, J.

(1978) [59] đã chỉ ra rằng sự khác biệt về giới trong quá trình phê duyệt cho vay cũng là một khía cạnh quan trọng để đánh giá có hay không tồn tại bất bình đẳng giới trong thị trường tín dụng, tác giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát trên toàn quốc-FDIC không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào về tỷ lệ từ chối cho vay giữa các ứng viên nam và nữ. (1982) [101], nghiên cứu cùng một vấn đề, thấy rằng các ứng dụng cho vay của phụ nữ ở thành phố New York có nhiều khả năng bị từ chối hơn so với nam giới. Tuy nhiên, Hoover, W. (1982) [101], không thấy rằng giới tính của người vay ảnh hưởng đến tỷ lệ từ chối cho vay đối với các khoản vay có nguồn gốc ở California.

Sử dụng dữ liệu từ Cục Dự trữ Liên bang Boston, Munnell, et al. (1996) [111] chứng minh rằng nữ giới có nhiều khả năng bị từ chối tiếp cận tín dụng hơn so với các ứng viên nam. Với việc sử dụng dữ liệu Khảo sát Quốc gia về Doanh nghiệp Nhỏ (NSSBF), Cavalluzzo (1998) [72], Blanchflower, et al. (2003) [71], chỉ ra rằng không tồn tại bất bình đẳng giới trong cho vay doanh nghiệp nhỏ.

Tuy nhiên, Cavalluzzo, et al. (2002) [72] trong nghiên cứu của mình lại chỉ ra rằng sau khi kiểm soát một tập hợp lớn các đặc điểm của người đi vay, doanh nghiệp và cho vay thì các khoản vay doanh nghiệp nhỏ của chủ sở hữu nữ ít được chấp thuận hơn và lãi suất được tính trên khoản vay của họ cao hơn so với khách hàng vay vốn là nam. (2002) [72] cũng chứng minh rằng người cho vay dường như không phân biệt đối xử với chủ sở hữu nữ dưới dạng phân bổ tín dụng, mà là dưới hình thức cho vay và yêu cầu thế chấp. Phụ nữ được cho là có nhiều khả năng được yêu cầu cầm cố tài sản thế chấp và trả lãi suất cao hơn.

Agier và Szafarz (2013) [47], sử dụng dữ liệu từ một tổ chức tài chính vi mô của Brazil nhận thấy rằng mặc dù khoảng cách giới tính không tồn tại trong các điều kiện về tín dụng, nhưng nó tồn tại theo các điều kiện cho vay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn Việt Nam" tập trung vào việc phân tích sự khác biệt trong khả năng tiếp cận tín dụng giữa nam và nữ trong các hộ gia đình nông thôn. Nghiên cứu chỉ ra rằng bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong lĩnh vực tài chính, ảnh hưởng đến khả năng phát triển kinh tế của các hộ gia đình. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này mà còn gợi ý các giải pháp nhằm cải thiện tình hình, từ đó giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ nông thôn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tín dụng và quản lý tài chính, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thái Nguyên, nơi phân tích chất lượng tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng nông nghiệp, và Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank, bài viết này cung cấp cái nhìn về quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến lĩnh vực tài chính và ngân hàng, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tín dụng trong bối cảnh Việt Nam.