CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài liên quan đến bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài về bất bình đẳng giới (i) Báo cáo “Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói” của ngân hàng thế giới 2001.
Nghiên cứu này đã tổng hợp các nghiên cứu đa ngành về vấn đề giới. Báo cáo đã đưa ra: (a) Khái niệm về bình đẳng và bất bình đẳng giới; (b) thực trạng phân biệt giới tính theo các khía cạnh trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển; (c) vai trò của các thể chế chính thức (luật pháp) các thể chế phi chính thức (phong tục tập quán, văn hóa) đối với vấn đề bình đẳng giới. Báo cáo phát triển thế giới với chủ để “Bình đẳng giới và phát triển” của Ngân hàng thế giới (2012) [126] đã đưa đưa ra 3 khía cạnh đánh giá bình đẳng và bất bình đẳng giới: (a) Sự tích tụ năng lực (sức khỏe, học hành, tài sản vật chất); (b) Việc sử dụng năng lực để nắm bắt các cơ hội kinh tế và tạo thu nhập; (c) Việc sử dụng các năng lực được tích tụ đó để tác động đến quyền lợi của các nhân và hộ gia đình. Báo cáo đã đánh giá những bước tiến trong việc giảm 6 bất bình đẳng giới, đồng thời cũng chỉ ra những khía cạnh bất bình đẳng giới còn tồn tại và lựa chọn chính sách tập trung giải quyết nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực ưu tiên.
(iii) Ngân hàng thế giới khu vực Đông Á và thái Bình Dương Báo cáo đã nghiên cứu chi tiết các khía cạnh bất bình đẳng giới ở khu vực Đông Á và thái Bình Dương từ đó đưa ra cơ sở hoạch định chính sách mang tính đặc trưng cho khu vực này. (iv) Báo cáo “Phụ nữ trong nông nghiệp, thu hẹp khoảng cách về giới cho phát triển” Báo cáo đã đưa ra: (a) Khái niệm về giới; (b) Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp; (c) Thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực sản xuất; (d) Ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong đối với năng suất sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh một số nghiên cứu mang tính tổng quát thì có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh cụ thể như: nghiên cứu tác động của bất bình đẳng giới tới tăng trưởng kinh tế: “Các nguồn lực tăng trưởng kinh tế”; Bất bình đẳng giới trong thu nhập và tăng trường; “Tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế ở các nước đăng phát triển”; Tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục tới tăng trưởng kinh tế; tác động của bất bình đẳng giới trong việc làm tới tăng trưởng kinh tế. (v) Như vậy, các nghiên cứu nói trên đã cung cấp: (a) các khái niệm, định nghĩa, quan điểm, tiêu chí đánh giá về bất bình đẳng giới; (b) đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trên một số khía cạnh ở góc độ quốc gia, khu vực, quốc tế; (c) đánh giá mối quan hệ bất bình đẳng giới và tăng trưởng, phát triển kinh tế; (d) các nhân tố tác động tới bất bình đẳng giới.
Các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn (i) Dịch vụ tài chính là một công cụ quan trọng để nâng cao năng suất. Dịch vụ tài chính thúc đẩy sự phân bổ hiệu quả hơn các nguồn lực giữa các nơi dư thừa và thiếu hụt tài nguyên trong nền kinh tế; dịch vụ tài chính giúp trao đổi hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn, giảm thiểu rủi ro hơn. Đối với các cá nhân có ít tài sản, tiếp cận tài chính làm cho nó có thể: (a) tiêu thụ hàng hóa thuận tiện hơn; (b) cải thiện được công nghệ do đó có thể tăng năng suất; (c) có được vốn lưu động để có được đầu vào sản xuất một cách kịp thời, và (d) tận dụng cơ hội thị trường [49]; [55]; [60]. (ii) Bất bình đẳng giới trong việc trong tiếp cận tín dụng chính thức chưa được nghiên cứu sâu, rộng như bất bình đẳng ở một số lĩnh vực khác như bất bình bình đẳng chủng tộc, bất bình đẳng trong giáo dục, thu nhập, lý do cho sự khan hiếm của nghiên cứu về chủ đề này có thể là do giới hạn về mặt dữ liệu.
Tuy nhiên, trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này như các nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng. Các nghiên cứu được thực hiện ở các khu vực khác nhau với các phương pháp khác nhau thì đưa ra một số kết quả khác nhau. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển, trong đó họ chiếm một phần lớn trong lao động sản xuất cho cây lương thực và cây công nghiệp [89]; và đồng thời họ quản lý các lĩnh vực riêng của họ [90]; [91];[100];[107]; [108]; [109]. Tuy nhiên, họ lại bị phân biệt đối xử trong thị trường tín dụng, phụ nữ đôi khi không thể có tài khoản ngân hàng hoặc không tự thực hiện được các hợp đồng tài chính vì các rào cản pháp lý và các quy tắc văn hóa.
Ngoài ra, họ bị hạn chế trong việc kiểm soát tài sản thế chấp – một trong những điều kiện quan trọng trong để được vay tiền. Hơn thế nữa, các tổ chức tín dụng thường hạn chế phụ nữ trong việc cận tín dụng hoặc là cho vay với lượng 8 vốn nhỏ hơn so với nam giới trong cùng một điều kiện [90]; [91];[100];[107]; [108]; [109]. (iii) Hầu hết các nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong tiếp cận tín dụng ở châu Phi đều chỉ ra phụ nữ hạn chế hơn so với nam giới trong việc tiếp cận tín dụng đặc biệt là tín dụng chính thức, điều đó thể hiện qua các bằng chứng thực tế khác nhau. Ví dụ ở Nigeria, 14% nam giới được tiếp cận tín dụng trong khi đó chỉ có 5% nữ giới được tiếp cận; ở Kenya, tỷ lệ nam giới được tiếp cận tín dụng là 14% , tỷ lệ nữ giới tiếp cận tín dụng là 4%, kết quả hỗn hợp về việc bất bình đẳng trong tiếp cận tín dụng ở khu vực đông Á [119], [120].
Nghiên cứu khác của [90]; [91] ở Mỹ Latin cũng chỉ ra rằng phụ nữ hạn chế trong việc tiếp cận tín dụng hơn so với nam giới khi họ cùng điều kiện kinh tế- xã hội tương đương nam giới. (iv) Các nghiên cứu ở châu Phi chỉ ra rằng như hầu hết các nước đang phát triển, phụ nữ ở vùng cận Sahara châu Phi (SSA) thường có một trách nhiệm không cân xứng về phúc lợi của gia đình họ và phụ nữ nghèo là đối tượng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức. Điều này xuất phát từ vị thế của họ trong hộ gia đình, họ bị hạn chế trong việc tiếp cận, sử dụng các tài sản. Tài sản đảm bảo là một trọng những yếu tố quan trọng để đảm bảo được tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức.
Hầu hết đàn ông trong gia đình có quyền kiểm soát các tài sản có thể bán được có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp để tiếp cận các dịch vụ tài chính. Do đó, tiếp cận tài sản tư đó có thể tiếp cận với tài chính vi mô cho phụ nữ là rất quan trọng để giảm nghèo và trao quyền cho phụ nữ. Tương tự như các nghiên cứu khác ở Châu Phi Ogunlela, Y., 2009 [119] đã đưa ra bằng chứng rằng phụ nữ ở Nigeria bị hạn chế hơn so với nam giới trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất, trong đó có tiếp cận tín dụng chính thức, so với phụ nữ, đàn ông đã thu được khoảng 80% tín dụng chính thức hơn. 9 (v) Ở các khu vực khác như Mỹ Trong nghiên cứu của Bewley, J.
(1978) [59] đã chỉ ra rằng sự khác biệt về giới trong quá trình phê duyệt cho vay cũng là một khía cạnh quan trọng để đánh giá có hay không tồn tại bất bình đẳng giới trong thị trường tín dụng, tác giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát trên toàn quốc-FDIC không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào về tỷ lệ từ chối cho vay giữa các ứng viên nam và nữ. (1982) [101], nghiên cứu cùng một vấn đề, thấy rằng các ứng dụng cho vay của phụ nữ ở thành phố New York có nhiều khả năng bị từ chối hơn so với nam giới. Tuy nhiên, Hoover, W. (1982) [101], không thấy rằng giới tính của người vay ảnh hưởng đến tỷ lệ từ chối cho vay đối với các khoản vay có nguồn gốc ở California.
Sử dụng dữ liệu từ Cục Dự trữ Liên bang Boston, Munnell, et al. (1996) [111] chứng minh rằng nữ giới có nhiều khả năng bị từ chối tiếp cận tín dụng hơn so với các ứng viên nam. Với việc sử dụng dữ liệu Khảo sát Quốc gia về Doanh nghiệp Nhỏ (NSSBF), Cavalluzzo (1998) [72], Blanchflower, et al. (2003) [71], chỉ ra rằng không tồn tại bất bình đẳng giới trong cho vay doanh nghiệp nhỏ.
Tuy nhiên, Cavalluzzo, et al. (2002) [72] trong nghiên cứu của mình lại chỉ ra rằng sau khi kiểm soát một tập hợp lớn các đặc điểm của người đi vay, doanh nghiệp và cho vay thì các khoản vay doanh nghiệp nhỏ của chủ sở hữu nữ ít được chấp thuận hơn và lãi suất được tính trên khoản vay của họ cao hơn so với khách hàng vay vốn là nam. (2002) [72] cũng chứng minh rằng người cho vay dường như không phân biệt đối xử với chủ sở hữu nữ dưới dạng phân bổ tín dụng, mà là dưới hình thức cho vay và yêu cầu thế chấp. Phụ nữ được cho là có nhiều khả năng được yêu cầu cầm cố tài sản thế chấp và trả lãi suất cao hơn.
Agier và Szafarz (2013) [47], sử dụng dữ liệu từ một tổ chức tài chính vi mô của Brazil nhận thấy rằng mặc dù khoảng cách giới tính không tồn tại trong các điều kiện về tín dụng, nhưng nó tồn tại theo các điều kiện cho vay.