CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BẰNG PHƯƠNG THỨC GIAO KHOÁN 1. Sự cần thiết phải giao khoán rừng trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng Công tác giao khoán rừng trong các công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng thời gian qua đã làm chuyển biến căn bản trong sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp và công tác quản lý BV&PTR; chủ rừng, người nhận khoán rừng yên tâm quản lý, đầu tư phát triển rừng trên diện tích được giao, góp phần chuyển dịch cơ cấu từ sản xuất lâm nghiệp truyền thống sang sản xuất lâm nghiệp xã hội có sự tham gia của người dân; góp phần nâng cao độ che phủ của rừng, đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng; nâng cao hiệu quả sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, tạo điều kiện cho các chủ rừng, nhất là các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng yên tâm đầu tư, sản xuất; tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân từ sản phẩm được nhận khoán; đóng góp cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn; đồng thời góp phần ổn định an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, diện tích đất rừng giao cho các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng đang quản lý chỉ mới giao khoán được khoảng 40%, thậm chí có nơi diện tích giao khoán chỉ bằng 5-10% diện tích đất rừng của công ty, ban quản lý [11]. Việc diện tích đất rừng của các BQL, các CTLN chưa được giao khoán với số lượng lớn đã dẫn đến tình trạng diện tích đất rừng bị mất đi xảy ra ở nhiều địa phương.
Hầu hết các vụ vi phạm gây mất rừng, giảm chất lượng rừng và suy giảm đa dạng sinh học. đều có sự tác động của con người, vì các lý do khác nhau như tình trạng đất rừng của các CTLN, BQL chưa giao khoán là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến quỹ đất hạn chế dành cho các hộ. Nói cách khác, việc đất rừng của các CTLN, BQL chưa giao khoán làm mất đi cơ hội tiếp cận với đất đai của hộ, đặc biệt là các hộ nghèo nhu cầu đất sản xuất, một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc có đời sống còn gặp nhiều khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào phát nương làm rẫy, khai thác lợi dụng tài nguyên rừng. Từ đó cho thấy rằng việc giao khoán rừng để 8 BV&PTR là hết sức cần thiết.
Những ưu điểm nổi bậc của việc giao khoán trong bảo vệ và phát triển rừng Thứ nhất, Thu hút các nguồn lực của toàn xã hội cùng tham gia Giao khoán rừng đã thu hút sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong xã hội như: Tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân vào việc thực hiện các hoạt động quản lý BV&PTR; các tổ chức nhà nước đã chủ động trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển lâm nghiệp từ đó phát huy vai trò tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, linh hoạt trong việc huy động các nguồn vốn và thu hút nguồn lực xã hội cùng tham gia; một số Ban Quản lý, Công ty lâm nghiệp sản xuất kinh doanh rừng trồng, đã áp dụng hình thức khoán theo chu kỳ kinh doanh cho các hộ gia đình, từ đó các hộ nhận khoán đã chủ động, phát huy được tính năng động, tận dụng lao động, vốn, kỹ thuật của họ vào diện tích rừng nhận khoán. Thứ hai, Hình thành mô hình liên doanh, liên kết giữa tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp Giao khoán rừng đã áp dụng các mô hình khoán đến sản phẩm cuối cùng trên diện tích đất đai mà nhà nước cần phải trực tiếp làm chủ rừng và trực tiếp kinh doanh. Qua đó, tạo mối quan hệ gắn bó giữa Công ty, Ban quản lý với các hộ nông dân, cộng đồng dân cư sống gần rừng. Cơ chế khoán được các Công ty, Ban Quản lý áp dụng theo phương thức là: đơn vị giao khoán đầu tư phân bón, giống và hướng dẫn kỹ thuật, còn các hộ nhận khoán bỏ công trồng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng đến khi khai thác; tỷ lệ hưởng lợi sản phẩm khai thác giữa các bên được xác định sau khi trừ chi phí khai thác, vận chuyển và dựa vào tỷ lệ đóng góp của mỗi bên.
Thứ ba, giúp cho những người sản xuất lâm nghiệp có thêm tư liệu sản xuất Giao khoán rừng đã góp phần giải quyết đất sản xuất cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Số diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao khoán cho 112.581 hộ gia đình, cá nhân sống gần rừng là 600. Như vậy, mỗi hộ gia đình và cá nhân trong các Công ty lâm nghiệp, ban quản lý được nhận khoán bình quân khoảng 5,3 ha [11] 9 Thứ tư, Góp phần tạo nguồn thu, phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho cho hộ gia đình, cá nhân sau khi được nhận khoán Đối với sản xuất, kinh doanh rừng, sau khi được nhận giao khoán người dân đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đầu tư theo chiều sâu (thâm canh, chọn giống tốt, chọn cây phù hợp với vùng lập địa, nâng mức đầu tư .), đưa năng suất rừng tăng cao góp phần tăng thu nhập bình quân cho mỗi hộ gia đình, cá nhân nhận khoán. Giao khoán rừng đã góp phần thu hút được một lực lượng lớn lao động địa phương, tạo động lực cho các hộ gia đình, cá nhân chủ động tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tập trung vào sản xuất kinh doanh nghề rừng.
Giao khoán đã góp phần thu hút được một lực lượng lớn lao động địa phương, tạo động lực cho các hộ gia đình, cá nhân chủ động tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tập trung vào sản xuất, kinh doanh nghề rừng. Các công ty lâm nghiệp, ban quản lý đã tổ chức giao khoán rừng cho 112.581 hộ gia đình, cá nhân. Với mỗi hộ gia đình có khoảng 3 người tham gia lao động sản xuất lâm nghiệp thì thu hút được khoảng trên 300 nghìn lao động tham gia[11]. Thứ năm, Quản lý rừng bền vững là cơ sở cho cấp chứng chỉ rừng Cộng đồng Quốc tế, Chính phủ và các cơ quan chính phủ, các tổ chức môi trường xã hội.v đòi hỏi các chủ sản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằng rừng của họ đã được quản lý bền vững.
Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thị trường đã được khai thác từ rừng đã quản lý bền vững. Người sản xuất muốn chứng minh rằng các sản phẩm rừng của mình đặc biệt là gỗ, được khai thác từ rừng đã được quản lý một cách bền vững. Việc cấp chứng chỉ rừng là công cụ để thiết lập quản lý rừng bền vững, nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Hiệu quả mang lại của mô hình giao khoán rừng trong BV&PTR Mô hình giao khoán rừng cho người dân sống gần rừng chăm sóc và bảo vệ là một điển hình mang lại hiệu quả trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, không chỉ giúp người dân tham gia quản lý cùng với nhà nước, mà giúp họ có thêm thu nhập, nâng cao đời sống.
10 Giáo khoán rừng gắn với trách nhiệm, quyền lợi của từng cá nhân, cụ thể là từng hộ gia đình sống ở ven rừng, được nhận tiền thù lao khoán mà vẫn được phép khai thác những lâm sản phụ, đã khuyến khích các hộ nhận khoán, tham gia quản lý bảo vệ rừng tốt hơn, từ đó chất lượng rừng không ngừng được gia tăng, độ che phủ của rừng được nâng cao, tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất rừng không còn xảy ra, đặc biệt không còn tình trạng người dân khai thác lâm sản trái phép, đa dạng sinh học của rừng được bảo vệ và ngày càng phát triển. Có thể nói rằng, hiệu quả của việc giao khoán rừng đem lại là rất lớn, vừa tạo thêm thu nhập, việc làm cho người dân, lại vừa gắn trách nhiệm của họ với bảo vệ thiên nhiên. Bên cạnh đó cũng giúp cho cơ quan quản lý trực tiếp giảm bớt được phần nào lượng lớn công việc, bù đắp nguồn nhân lực thiếu hụt. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, ngành lâm nghiệp đang đứng trước những cơ hội thay đổi to lớn.
Hội nhập có tiềm năng giúp cho ngành lâm nghiệp nâng cao vị thế trên trường Quốc tế, thông qua sự mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sản phẩm gỗ và phi gỗ, từ đó thúc đẩy nghề rừng trong nước. Hội nhập cũng tạo cơ hội cho ngành tham gia các sáng kiến mới như REDD+, FLEGT từ đó có tiềm năng tạo ra nguồn ngân sách bền vững phục vụ bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên hội nhập cũng đã và đang tạo ra những thách thức to lớn, đòi hỏi ngành lâm nghiệp cần phải có những thay đổi căn bản về hình thức quản lý lâm nghiệp hiện nay nói riêng và quản trị rừng nói chung. Đảng và Chính phủ đã và đang đưa ra những chủ trương lớn nhằm thực hiện đổi mới, tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành, nhằm thay đổi hình thức quản lý lâm nghiệp Nhà nước theo hướng hiệu quả hơn.
“Đổi mới”, “tái cơ cấu” và “nâng cao hiệu quả hoạt động” nên được thực hiện theo cách tạo ra sự dịch chuyển trong phương thức quản lý, chuyển đổi từ hình thức quản lý lâm nghiệp Nhà nước, với ưu tiên dành cho các CTLN, BQL rừng sang hình thức quản lý lấy hộ gia đình và cộng đồng làm trung tâm. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 Quy định về khoán rừng trong các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp Nhà nước. Nhằm để khắc phục được những 11 tồn tại, vướng mắc trong quy định của Nghị định 01/CP và 135/2005/NĐ-CP, đồng thời giải quyết được những vấn đề phát sinh do Nghị định 01/CP và 135/2005/NĐ- CP quy định, đồng thời phù hợp và đồng nhất với các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay về giao đất, giao rừng và giải quyết được những yêu cầu của thực tiễn sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp hiện nay. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng bằng phương thức giao khoán 1.