Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 1. Khái niệm thực hiện pháp luật Quản lý xã hội bằng pháp luật là phương thức quản lý cơ bản của hầu hết các nhà nước đương đại trên thể giới. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp và có nhà nước thì việc bảo đảm cho xã hội có trật tự luôn là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển.
Xã hội không có trật tự, ổn định thì tất nhiên các quyền lợi của tổ chức, cá nhân không thể bảo đảm được sự công bằng. Để quản lý xã hội, đòi hỏi mỗi nhà nước phải xây dựng cho được một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu điều chỉnh mọi quan hệ trong đời sống xã hội. Ở Việt Nam, trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, pháp luật ngày càng có vai trò quan trọng thống trị trong đời sống Nhà nước và xã hội. Pháp luật là một công cụ để quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước, song pháp luật chỉ phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi pháp luật được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống.
Như vậy, thực hiện pháp luật là yêu cầu khách quan của xã hội, Nhà nước và từng cá nhân. Khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa phân tích thuộc tính thực hiện pháp luật trong mối quan hệ biện chứng với xây dựng pháp luật, bảo vệ pháp luật khẳng định thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật, là quá trình hiện thực hóa ý chí của nhân dân được thể hiện 9 trong pháp luật thay cho hành vi hợp pháp của chủ thể pháp luật, thực hiện pháp luật là mắt xích quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin nghiên cứu về thực hiện pháp luật đều cho rằng: Thực hiện pháp luật là quá trình tiếp tục ý chí của nhà nước thể hiện trong pháp luật, thực hiện pháp luật là một mắt xích quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bởi vì nội dung cốt lõi của pháp chế là sự tuân thủ pháp luật, sự thực hiện pháp luật.
Lênin cho rằng: pháp chế là sự tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh các đạo luật, vấn đề quan trọng không chỉ thực hiện nghiêm chỉnh các đạo luật, và điều quan trọng là các đạo luật được ban hành đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đòi hỏi của xã hội và nguyện vọng của quần chúng nhân dân lao động và vấn đề quan trong nhất là pháp luật ban hành phải được tuân thủ, thực hiện đồng thời pháp luật được ban hành phải có sự thống nhất cao, có như vậy pháp chế mới bảo đảm thực hiện. Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị, khóa IX nêu rõ: Hiệu lực của pháp luật là để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế quốc gia, hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước trong sạch, mạnh mẽ, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020 [4, tr. Để pháp luật phát huy được vai trò của mình thì cần thiết là phải thực hiện pháp luật, có như vậy khi pháp luật được ban hành mới thực sự đi vào cuộc sống. Cho đến nay, có rất nhiều nhà khoa học về luật học đứng trên các bình diện khác nhau nghiên cứu về thực hiện pháp luật và có nhiều cách luận giải vấn đề thực hiện pháp luật như: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính quản lý.
Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật diễn ra 10 đồng thời và tiếp nối quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của nhà nước” [35, tr. Theo quan điểm trên thì xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành pháp luật và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, còn thực hiện pháp luật là trách nhiệm của mọi tổ chức và công dân Việt Nam, người nước ngoài làm việc trên lãnh thổ nước Việt Nam. Quan điểm thứ hai cho rằng: “thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trỏ thành hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể pháp luật” [52, tr.
Quan điểm này cho thấy thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân, cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội… Quan điểm thứ ba cho rằng: Thực hiện pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói cách khác, tất cả nhũng hoạt động nào của con người, của tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì được coi là sự thực hiện thực tế của quy phạm pháp luật [53, tr. Bên cạnh những quan điểm chính thức như hiện nay, có một số nhà khoa học pháp lý tiếp cận về thực hiện pháp luật và đưa ra cách luận giải về thực hiện pháp luật như: PGS.TS Nguyễn Minh Đoan cho rằng: Thực hiện pháp luật trước hết là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Tất cả các nhà nước để có thể tổ chức, quản lý được xã hội đều bắt buộc phải tiến hành xây dựng pháp luật và ban hành quy phạm pháp luật, nhà nước mong muốn sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội.
Điều đó có thể đạt 11 được khi các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ. Do vậy, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi của con người, nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở dạng hành vi pháp luật của con người. Hành vi có thể là hành động hay không hành động phù hợp với những quy định của pháp luật.
Thực hiện pháp luật được chia ra làm 4 giai đoạn như: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Tóm lại, trong tất cả các quan điểm về thực hiện pháp luật nêu trên đều có những khía cạnh, nhiều ý kiến khác nhau về thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, các quan điểm về thực hiện pháp luật đều hội tụ cơ bản về nội dung cốt lõi đó là: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực và đi vào cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật có thể hiểu rằng các tổ chức và cá nhân là chủ thể của pháp luật khi gặp phải những tình huống mà quy phạm pháp luật đã nêu ra ở phần giả định thì các chủ thể phải tự hành động hoặc không hành động sao cho phù hợp với những quy định của pháp luật.
Từ các quan điểm lý luận trên có thể đi đến khái niệm thực hiện pháp luật như sau: Thực hiện pháp luật là tổng thể các hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng và phát triển rừng 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Tất cả các nhà nước để có thể tổ chức, quản lý 12 được xã hội đều bắt buộc phải xây dựng (ban hành) pháp luật.
Ban hành quy phạm pháp luật nhà nước mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội. Điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành được các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ. Đó chính là yêu cầu và mục đích mà nhà nước đặt ra trong quá trình quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ và phát triển rừng là một lĩnh vực của đời sống xã hội, tuy nhiên thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng là một yêu cầu chung của toàn xã hội.
Để làm rõ khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên cơ sở khái niệm chung về thực hiện pháp luật được nêu trên, cần thiết phải tìm hiểu những vấn đề cơ bản về rừng, bảo vệ và phát triển rừng. Khái niệm rừng: Hiện có rất nhiều nhà khoa học về lâm nghiệp, các nhà nghiên cứu về môi trường đưa ra các quan niệm khác nhau về rừng như: Quan niệm thứ nhất: Ủy ban môi trường thế giới cho rằng: rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu và quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. Quan điểm thứ hai: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển.
Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý [35, tr. Quan điểm thứ ba: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài [35, tr.