Tổng quan luận án
Phẫu thuật cắt gan là phương pháp điều trị triệt căn mang lại hiệu quả cho bệnh nhân mắc ung thư tế bào gan nguyên phát (Hepatocellular Carcinoma - HCC). Trong bối cảnh dịch tễ học, ung thư tế bào gan là bệnh lý phổ biến thứ sáu và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ ba trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, căn bệnh này có tỷ lệ mắc đứng hàng đầu trong các loại ung thư do tỷ lệ nhiễm virus viêm gan siêu vi B (chiếm 15 – 20%) và virus viêm gan siêu vi C (chiếm 15%) ở mức cao.
Trong quá trình thực hiện phẫu thuật cắt gan, phẫu thuật viên bắt buộc phải áp dụng các kỹ thuật kiểm soát mạch máu vào và ra của gan nhằm hạn chế lượng máu mất và giảm nhu cầu truyền máu chu phẫu. Tuy nhiên, việc kẹp và xả mạch máu gan (như nghiệm pháp Pringle hoặc kiểm soát cuống Glisson) gây ra tình trạng thiếu máu cục bộ ấm và tái tưới máu (Ischemia - Reperfusion Injury - IRI). Hội chứng tổn thương thiếu máu - tái tưới máu này dẫn đến hoại tử tế bào gan, biểu hiện trực tiếp qua sự gia tăng nồng độ men gan ALT (Alanine aminotransferase) và AST (Aspartate aminotransferase), làm tăng nguy cơ suy tế bào gan cấp sau mổ, kéo dài thời gian điều trị và gia tăng tỷ lệ biến chứng cũng như tử vong chu phẫu.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Các chiến lược tiền thích nghi bằng thiếu máu cơ học hoặc tiền thích nghi bằng thuốc mê hô hấp (đặc biệt là sevofluran) đã được chứng minh hiệu quả bảo vệ tế bào cơ tim trong phẫu thuật tim mạch. Tuy nhiên, trên mô hình phẫu thuật cắt gan, các nghiên cứu quốc tế về tác dụng bảo vệ tế bào gan của sevofluran vẫn còn hạn chế và đưa ra những kết luận trái ngược nhau do khác biệt về phương pháp kiểm soát mạch máu và tiêu chí đánh giá. Hơn nữa, hầu hết dữ liệu quốc tế được ghi nhận trên nền gan tương đối bình thường. Tại Việt Nam, đa số phẫu thuật cắt gan được thực hiện trên nhóm bệnh nhân ung thư tế bào gan có bệnh lý gan nền (viêm gan mạn tính hoặc xơ gan) và chưa có công trình nào đánh giá hiệu quả bảo vệ tế bào gan của sevofluran trong phẫu thuật cắt gan có kiểm soát mạch máu.
Luận án đặt ra giả thuyết khoa học: Việc sử dụng thuốc mê hô hấp sevofluran theo phương thức tiền thích nghi đơn thuần hoặc tiền thích nghi kết hợp duy trì mê liên tục (hậu thích nghi) có tác dụng bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương thiếu máu - tái tưới máu, thể hiện qua việc làm giảm nồng độ đỉnh của men gan ALT và AST sau phẫu thuật.
Hệ thống mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- So sánh mức độ tổn thương tế bào gan thông qua nồng độ đỉnh của ALT, AST sau mổ ở nhóm tiền thích nghi sevofluran, nhóm tiền thích nghi kết hợp hậu thích nghi sevofluran với nhóm chứng gây mê tĩnh mạch hoàn toàn bằng propofol.
- So sánh chức năng gan thông qua động học nồng độ ALT, AST, giá trị INR, aPTT, số lượng tiểu cầu và nồng độ bilirubin toàn phần tại các thời điểm ngày 0, 1, 2, 5 và ngày 30 sau mổ giữa 3 nhóm nghiên cứu.
- So sánh kết cục phẫu thuật đánh giá bằng tỷ lệ biến chứng sau mổ và thời gian nằm viện giữa 3 nhóm nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tế bào gan nguyên phát có chỉ định phẫu thuật cắt gan chương trình theo giải phẫu và có kiểm soát mạch máu trong mổ.
- Phạm vi không gian: Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai liên tục trong 4 năm, từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 9 năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến kỹ thuật ngoại khoa cắt gan, sinh lý bệnh tổn thương do thiếu máu - tái tưới máu, cơ chế bảo vệ của hiện tượng tiền thích nghi và ứng dụng lâm sàng của thuốc mê hô hấp.
Về giải phẫu và kỹ thuật kiểm soát mạch máu trong cắt gan, luận án điểm lại các phân loại kinh điển của Couinaud về 8 hạ phân thùy chức năng gan và tiêu chuẩn cắt gan lớn (từ 3 hạ phân thùy trở lên) theo Reissfelder C. và cộng sự (2011). Luận án phân tích các phương pháp kiểm soát mạch máu gồm: nghiệm pháp Pringle liên tục và ngắt quãng (Belghiti và cộng sự); kẹp chọn lọc một nửa gan; kiểm soát toàn bộ mạch máu kết hợp kẹp tĩnh mạch chủ dưới; kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson ngoài gan và cắt gan giải phẫu theo Takasaki (2007). Các công trình đánh giá về phương pháp cuống Glisson của Ji B. và cộng sự (2012), Giordona M. và cộng sự (2010), Karamarkovic A. và cộng sự (2013) được phân tích để làm rõ rằng việc kẹp mạch máu chọn lọc vẫn tạo ra khoảng thời gian thiếu máu nhu mô gan còn lại (dao động từ 15 đến 45 phút tùy thuộc cắt gan nhỏ hay cắt gan lớn).
Về hiệu quả bảo vệ tế bào của thuốc mê hô hấp, luận án phân tích hai mảng chính:
- Trên tế bào cơ tim: Các công trình của De Hert và cộng sự (2004), Wang và cộng sự (2013), phân tích gộp của Yu và Beattie (2006) trên 32 thử nghiệm lâm sàng, phân tích gộp của Xu R. và cộng sự (2014) trên 17 nghiên cứu, phân tích gộp của Lu Y. và cộng sự (2016) trên 6 thử nghiệm cho thấy sevofluran làm giảm nồng độ men troponin I sau mổ bắc cầu mạch vành. Tuy nhiên, thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm của Lurati Buse G.A. và cộng sự (2012) trên 385 bệnh nhân phẫu thuật ngoài tim lại ghi nhận sevofluran không làm giảm biến chứng tim mạch chu phẫu so với propofol. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nga và cộng sự (2012) ghi nhận sevofluran cải thiện huyết động và giảm nhu cầu dùng thuốc vận mạch sau mổ bắc cầu vành nhưng chưa làm giảm nồng độ men tim phóng thích.
- Trên tế bào gan: Thử nghiệm lâm sàng của Beck-Schimmer B. và cộng sự (2008) trên 60 bệnh nhân phẫu thuật cắt gan áp dụng nghiệm pháp Pringle liên tục cho thấy tiền thích nghi bằng sevofluran 1,5 MAC trong 10 phút giúp làm giảm có ý nghĩa thống kê nồng độ đỉnh ALT, AST (p = 0,01 và p = 0,05) và giảm tỷ lệ biến chứng sau mổ. Tiếp đó, Beck-Schimmer B. và cộng sự (2012) ghi nhận hiệu quả của hậu thích nghi bằng sevofluran. Các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật của Bedirli N. và cộng sự (2008), Zhou S.P. và cộng sự (2013) và nghiên cứu ghép gan người cho chết não của Minou A.F. và cộng sự (2012) đều chứng minh sevofluran có tác dụng bảo vệ mô gan trước tổn thương IRI. Trái lại, nghiên cứu của Nguyễn Tất Nghiêm và cộng sự (2019) tại Việt Nam trên 106 bệnh nhân cắt gan lại ghi nhận không có sự khác biệt về ALT, AST và INR giữa duy trì mê bằng propofol và sevofluran vào các ngày hậu phẫu 1, 3, 5. Nghiên cứu của Lê Minh Nguyệt và Nguyễn Văn Chừng (2007) so sánh sevofluran và isoflurane nhưng chỉ dừng ở góc độ theo dõi huyết động và chức năng cơ bản, chưa tiếp cận dưới góc độ tiền thích nghi bảo vệ tế bào.
Vị trí của luận án: Luận án là công trình thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng đầu tiên tại Việt Nam đánh giá chuyên biệt hiệu quả bảo vệ tế bào gan của sevofluran qua phác đồ tiền thích nghi đơn thuần (nhóm PS) và tiền thích nghi kết hợp hậu thích nghi (nhóm S) so sánh trực tiếp với gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích propofol (nhóm P) trên nhóm bệnh nhân ung thư tế bào gan có bệnh nền viêm gan và xơ gan.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Cơ chế bệnh sinh của tổn thương thiếu máu - tái tưới máu gan diễn ra qua hai giai đoạn: giai đoạn thiếu oxy (< 6 giờ) và giai đoạn tái tưới máu (trung gian và trễ kéo dài đến 24 giờ).
- Khi thiếu oxy, tế bào gan cạn kiệt ATP dẫn đến hoạt hóa chuyển hóa yếm khí, phù tế bào, hình thành bóng nước màng bào tương và biến đổi tính thấm màng trong ty thể (Permeability Transition Pore - PT pore).
- Khi tái tưới máu, sự thay đổi đột ngột pH và tái cung cấp oxy kích hoạt tế bào Kupffer và bạch cầu đa nhân trung tính phóng thích ồ ạt các gốc tự do oxy hóa (ROS: $H_2O_2$, $O_2^-$, $OH^-$ qua phản ứng Fenton, peroxynitrite $OONO^-$ do tương tác giữa $O_2^-$ và Nitric Oxide), các cytokine tiền viêm (TNF-$\alpha$, IL-1, IL-6), yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PAF), điều hòa tăng các phân tử kết dính tế bào (ICAM-1, Selectin, CD11b/CD18). Quá trình này thúc đẩy hoại tử tế bào gan và kích hoạt con đường chết tế bào theo chương trình (Apoptosis) thông qua mở lỗ PT, giải phóng Cytochrome C, yếu tố AIF, hoạt hóa dòng thác Caspase và các protein nhóm BCL-2 (như BAX).
- Cơ chế tiền thích nghi (Preconditioning): Một giai đoạn thiếu máu ngắn hoặc tiếp xúc với thuốc mê hô hấp (sevofluran) kích hoạt thụ thể Adenosine A1, phospholipase, protein kinase C (PKC), kích thích mở kênh kali nhạy cảm ATP ($K^+_{ATP}$) ở ty thể và màng bào tương, ức chế quá tải ion $Ca^{2+}$ nội bào, điều hòa yếu tố gây cảm ứng thiếu oxy 1 (HIF-1 gồm tiểu đơn vị HIF-1$\alpha$ và HIF-1$\beta$), ức chế tổng hợp iNOS và giảm tạo ROS, qua đó nâng cao ngưỡng chịu đựng của tế bào gan trước giai đoạn thiếu máu kéo dài tiếp theo.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng, làm mù đơn (người thu thập và phân tích số liệu được làm mù với nhánh can thiệp).
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân tuổi từ 18 đến 65; phân độ tình trạng sức khỏe theo Hội Gây mê Hồi sức Hoa Kỳ (ASA) mức I, II, III; được chỉ định phẫu thuật cắt gan chương trình điều trị ung thư tế bào gan nguyên phát có kẹp mạch máu; không có tiền sử hoặc nghi ngờ sốt cao ác tính; đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Viêm gan B hoặc C đang tiến triển hoạt động; xơ gan giai đoạn Child-Pugh B, C; bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; bệnh tim thiếu máu cục bộ; suy thận mạn tính.
- Phân nhóm can thiệp:
- Nhóm PS (Tiền thích nghi sevofluran): Khởi mê và duy trì mê bằng Propofol kiểm soát nồng độ đích (TCI). Trước khi phẫu thuật viên kẹp mạch máu gan khoảng 30 phút (từ 30 – 60 phút), ngưng propofol và cho bệnh nhân hít sevofluran nồng độ 1,5 MAC trong 15 phút. Sau đó ngưng sevofluran và tiếp tục duy trì mê bằng TCI propofol cho đến hết phẫu thuật.
- Nhóm S (Tiền thích nghi kết hợp hậu thích nghi sevofluran): Khởi mê và duy trì mê liên tục hoàn toàn bằng thuốc mê hô hấp sevofluran trong suốt toàn bộ thời gian phẫu thuật.
- Nhóm P (Nhóm chứng): Khởi mê và duy trì mê hoàn toàn bằng thuốc mê tĩnh mạch propofol theo phương thức TCI trong suốt phẫu thuật.
- Tính toán cỡ mẫu: Áp dụng công thức so sánh hai số trung bình dựa trên biến số kết cục chính là nồng độ đỉnh ALT sau mổ, tham chiếu theo nghiên cứu của Beck-Schimmer B. và cộng sự (2008): $\mu_1 = 717,71$ U/L, $\mu_2 = 463,53$ U/L, $\sigma_1 = 497,47$, $\sigma_2 = 287,95$, mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ và lực mẫu $1 - \beta = 0,80$ ($\beta = 0,20$). Cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là $n = 40,13$ bệnh nhân/nhóm (lấy tròn 41 bệnh nhân/nhóm). Dự phòng 10% mất mẫu, tác giả chuẩn bị 135 phong bì/lá thăm ngẫu nhiên (45 thăm cho mỗi nhóm PS, S, P) đặt trong hộp kín để bốc thăm phân nhóm ngẫu nhiên đơn.
- Công cụ và chỉ số theo dõi:
- Trang thiết bị: Bơm tiêm tự động có chức năng kiểm soát nồng độ đích TCI propofol, máy theo dõi độ mê BIS-VISTA, máy theo dõi độ giãn cơ TOF-Watch, hệ thống máy gây mê và monitor đa thông số.
- Phân loại mức độ xơ gan theo thang điểm Child-Pugh:
| Chỉ số đánh giá |
1 điểm |
2 điểm |
3 điểm |
| Bệnh não gan |
Không có |
Giai đoạn I, II |
Giai đoạn III, IV |
| Cổ trướng |
Không có |
Vừa |
Nhiều |
| Albumin máu |
> 35 g/L |
28 – 35 g/L |
< 28 g/L |
| Bilirubin toàn phần |
< 34 $\mu$mol/L (< 2,0 mg/dL) |
34 – 51 $\mu$mol/L (2,0 – 3,0 mg/dL) |
> 51 $\mu$mol/L (> 3,0 mg/dL) |
| Tỷ lệ Prothrombin (PT) |
> 55% (INR < 1,7) |
45 – 55% (INR 1,7 – 2,3) |
< 45% (INR > 2,3) |
Phân loại mức độ: Child-Pugh A (5 – 6 điểm), Child-Pugh B (7 – 9 điểm), Child-Pugh C (10 – 15 điểm).
- Tiêu chuẩn chẩn đoán biến chứng cụ thể:
- Suy gan sau mổ: Tiêu chuẩn 50-50 của Balzan S. (PT < 50%, tương đương INR > 1,7 và Bilirubin toàn phần > 50 $\mu$mol/L vào ngày hậu phẫu thứ 5).
- Biến chứng tim mạch: Nhồi máu cơ tim xác định khi Troponin I $\ge 1,5$ ng/mL hoặc Troponin T $> 0,1$ ng/mL kèm thay đổi điện tâm đồ (sóng Q mới, ST chênh $\ge 1$ mm) hoặc cần can thiệp mạch vành trong 30 ngày.
- Biến chứng hô hấp: Viêm phổi, xẹp phổi, suy hô hấp theo tiêu chuẩn Canet.
- Tổn thương thận cấp: Tiêu chuẩn KDIGO (Creatinine tăng $\ge 0,3$ mg/dL hoặc tăng $\ge 50%$, hoặc thiểu niệu $< 0,5$ mL/kg/giờ kéo dài $\ge 6$ giờ).
- Chảy máu sau mổ: Giảm Hb $\ge 3$ g/dL, truyền máu hoặc cần can thiệp cầm máu lại.
- Nhiễm trùng: Nhiễm trùng vết mổ nông, sâu hoặc ổ bụng trong 30 ngày theo định nghĩa chuẩn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 trình bày chi tiết bức tranh lý thuyết và thực tiễn ngoại - gây mê hồi sức trong phẫu thuật cắt gan:
- Giải phẫu phân thùy gan theo Couinaud và phân loại mức độ phẫu thuật: Cắt gan lớn (cắt từ 3 hạ phân thùy giải phẫu trở lên như cắt gan phải, cắt gan trái, cắt gan mở rộng) và cắt gan nhỏ (dưới 3 hạ phân thùy). Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của Reissfelder C. (2011) khẳng định phẫu thuật cắt gan lớn làm tăng rõ rệt nguy cơ biến chứng và tử vong so với cắt gan nhỏ.
- Phân tích ưu nhược điểm của các kỹ thuật kiểm soát mạch máu: Nghiệm pháp Pringle toàn bộ liên tục và ngắt quãng (chu kỳ 15/5, 20/5 hoặc 5/1), Pringle chọn lọc một nửa gan, kiểm soát toàn bộ dòng máu vào - ra có kẹp tĩnh mạch chủ dưới, và kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson ngoài gan theo Takasaki. Nghiên cứu của Ji B. (2012) và Giordona M. (2010) cho thấy kỹ thuật Glisson ngoài gan rút ngắn thời gian kiểm soát nguồn mạch máu vào nhưng không triệt tiêu hoàn toàn thời gian thiếu máu nhu mô gan còn lại (29 $\pm$ 11 phút ở cắt gan lớn và 26 $\pm$ 21 phút ở cắt gan nhỏ).
- Các biến chứng hậu phẫu thường gặp: Nhiễm trùng ổ bụng và viêm phổi, chảy máu do rối loạn đông máu đạt đỉnh từ ngày hậu phẫu 2 đến 5, suy tế bào gan cấp sau mổ (liên quan trực tiếp đến thể tích gan còn lại, bệnh gan nền và tổn thương thiếu máu - tái tưới máu), thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sâu.
- Cơ chế phân tử của tổn thương thiếu máu - tái tưới máu gan: Sự cạn kiệt nguồn năng lượng ATP, phá hủy cân bằng điện giải màng tế bào, hiện tượng biến đổi tính thấm màng trong ty thể (mở lỗ PT pore), stress oxy hóa thông qua các phản ứng sinh gốc tự do ROS, vai trò kích hoạt tế bào Kupffer giải phóng các chất trung gian gây viêm (TNF-$\alpha$, IL-1, IL-6, PAF), rối loạn vận mạch do mất cân bằng giữa Endothelin-1 và Nitric Oxide (NO), hiện tượng bám dính và xuyên mạch của bạch cầu đa nhân trung tính qua trung gian ICAM-1 và integrin CD11b/CD18, dẫn đến hoại tử và apoptosis tế bào gan.
- Cơ sở sinh lý và cơ chế tiền thích nghi: Tác dụng bảo vệ tế bào qua hai cửa sổ thời gian (cửa sổ sớm 2 – 3 giờ và cửa sổ muộn 24 – 72 giờ); vai trò của kênh $K^+_{ATP}$ ty thể, protein kinase C, các yếu tố phiên mã HIF-1, NF-$\kappa$B và protein kháng chết tế bào BCL-2.
- Tổng quan các bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng về tiền thích nghi bằng thuốc mê sevofluran trên mô cơ tim và mô gan (Beck-Schimmer B., Bedirli N., Zhou S.P., Minou A.F.).
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận triển khai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh:
- Xác lập chặt chẽ tiêu chuẩn chọn bệnh (chẩn đoán ung thư gan nguyên phát, có chỉ định cắt gan giải phẫu có kẹp mạch máu, ASA I - III, tuổi 18 - 65, Child-Pugh A) và tiêu chuẩn loại trừ nghiêm ngặt các bệnh lý tim mạch, hô hấp, thận mạn và viêm gan tiến triển để hạn chế các yếu tố gây nhiễu lên nồng độ men gan và kết cục chu phẫu.
- Thiết lập quy trình can thiệp chuẩn hóa cho 3 nhóm (PS, S và P) với kỹ thuật gây mê kiểm soát nồng độ đích (TCI) propofol kết hợp theo dõi độ sâu gây mê bằng chỉ số BIS (duy trì 40 – 60) và độ giãn cơ bằng máy TOF-Watch.
- Quy trình lấy mẫu xét nghiệm và đo lường các biến số kết cục:
- Biến số chính: Nồng độ đỉnh ALT và AST sau mổ.
- Biến số phụ: Động học nồng độ ALT, AST, bilirubin toàn phần, INR, aPTT, số lượng tiểu cầu tại các mốc thời gian: trước mổ, ngày 0 (ngay sau mổ), ngày 1, ngày 2, ngày 5 và ngày 30 sau mổ.
- Theo dõi kết cục lâm sàng: Tỷ lệ biến chứng chung, biến chứng suy gan theo tiêu chuẩn 50-50 của Balzan, biến chứng tim mạch, hô hấp, tổn thương thận cấp KDIGO, chảy máu, nhiễm trùng, thời gian nằm viện và tỷ lệ tử vong trong viện.
- Phân tích thống kê: Xây dựng cơ cấu so sánh định lượng giữa các nhóm, phân tích hồi quy đơn biến và đa biến nhằm xác định các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến nồng độ đỉnh ALT, AST; áp dụng hệ số tương quan Spearman để phân tích mối liên quan giữa nồng độ men gan với thời gian mổ, thời gian gây mê và lượng máu mất. Quy trình nghiên cứu đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: KẾT QUẢ
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu và kết quả thu thập từ các bảng biểu và sơ đồ phân tích:
- Lưu đồ chọn mẫu và đặc điểm nền của bệnh nhân giữa ba nhóm nghiên cứu: So sánh tính đồng nhất về các đặc điểm lâm sàng trước mổ (tuổi, giới, BMI, tiền sử viêm gan B, C, phân độ Child-Pugh), cận lâm sàng trước mổ, đặc điểm chức năng gan nền, đặc điểm cuộc mổ (tỷ lệ cắt gan lớn/nhỏ, mổ mở/nội soi, thời gian phẫu thuật, thời gian thiếu máu gan) và lượng máu mất cũng như lượng chế phẩm máu truyền trong mổ giữa 3 nhóm.
- Mức độ tổn thương tế bào gan qua nồng độ đỉnh men gan sau mổ: So sánh nồng độ đỉnh ALT, AST giữa nhóm tiền thích nghi sevofluran (PS), nhóm duy trì sevofluran liên tục (S) và nhóm chứng propofol (P); phân tích phân tầng nồng độ đỉnh men gan ở phân nhóm cắt gan lớn và phân nhóm cắt gan nhỏ; xác định thời điểm đạt nồng độ đỉnh của ALT và AST sau mổ.
- Động học các chỉ dấu sinh học chức năng gan và đông máu sau mổ: Trình bày diễn tiến theo thời gian (ngày 0, 1, 2, 5 và ngày 30) của các chỉ số: nồng độ ALT, nồng độ AST, nồng độ bilirubin toàn phần, giá trị INR, giá trị aPTT và số lượng tiểu cầu.
- Tỷ lệ biến chứng và thời gian nằm viện: Thống kê tỷ lệ xuất hiện các biến chứng chu phẫu (suy tế bào gan sau mổ theo tiêu chuẩn Balzan, nhiễm trùng, chảy máu, biến chứng hô hấp, biến chứng tim mạch, suy thận cấp), thời gian nằm viện trung bình và tỷ lệ tử vong giữa các nhóm can thiệp và nhóm chứng.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Kết quả hồi quy đơn biến và hồi quy đa biến xác định các yếu tố độc lập tác động đến nồng độ đỉnh ALT, AST; phân tích tương quan Spearman giữa nồng độ đỉnh ALT, AST với thời gian phẫu thuật, thời gian gây mê và lượng máu mất trong mổ; phân tích chi tiết động học các xét nghiệm chức năng gan và đông máu ở 3 trường hợp tử vong trong mẫu nghiên cứu.
Chương 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tập trung biện luận, so sánh và đối chiếu các kết quả nghiên cứu của luận án với y văn trong nước và quốc tế:
- Biện luận về đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu, tính tương đồng về các biến số nhân khẩu học, bệnh nền viêm gan siêu vi và đặc tính phẫu thuật giữa 3 nhóm nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị nội suy của thử nghiệm lâm sàng.
- Đánh giá sâu về hiệu quả bảo vệ tế bào gan của sevofluran thông qua nồng độ đỉnh ALT và AST sau mổ: Biện giải cơ chế sinh học phân tử của hiện tượng tiền thích nghi và hậu thích nghi bằng thuốc mê hô hấp; so sánh mức độ biến đổi men gan của luận án với kết quả của Beck-Schimmer B. (2008, 2012), Bedirli N. (2008) và lý giải sự khác biệt với các nghiên cứu không ghi nhận hiệu quả bảo vệ (như Nguyễn Tất Nghiêm, 2019).
- Đánh giá chức năng hồi phục của tế bào gan thông qua động học các chỉ dấu sinh học: Phân tích quy luật phục hồi của INR, aPTT, số lượng tiểu cầu và bilirubin toàn phần từ ngày 0 đến ngày 30 sau mổ; đánh giá mức độ suy giảm chức năng tổng hợp và bài tiết của gan dưới tác động của các kỹ thuật gây mê khác nhau.
- Đánh giá hiệu quả lâm sàng qua tỷ lệ biến chứng và thời gian nằm viện: Biện luận về mối liên quan giữa việc giảm nồng độ men gan với tỷ lệ suy gan sau mổ theo tiêu chuẩn 50-50, tỷ lệ nhiễm trùng, biến chứng tim mạch - hô hấp và thời gian hồi phục xuất viện của người bệnh; phân tích nguyên nhân và diễn tiến lâm sàng của 3 trường hợp tử vong.
- Nêu rõ các điểm mạnh (thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng chuẩn mực, theo dõi động học dài ngày đến ngày thứ 30, thực hiện trên đối tượng đặc thù có bệnh gan nền tại Việt Nam) và các điểm hạn chế của nghiên cứu.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả chính
- Luận án thiết lập và chuẩn hóa quy trình tiền thích nghi bằng thuốc mê hô hấp sevofluran (1,5 MAC trong 15 phút trước khi kẹp mạch máu 30 phút) và phác đồ duy trì mê liên tục bằng sevofluran trong phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư tế bào gan nguyên phát có kiểm soát mạch máu.
- Cung cấp dữ liệu định lượng đầy đủ về mức độ tổn thương tế bào gan qua nồng độ đỉnh ALT, AST; làm rõ động học phục hồi các chỉ số chức năng gan (bilirubin toàn phần) và các thông số đông máu (INR, aPTT, tiểu cầu) từ ngay sau mổ (ngày 0) đến ngày thứ 30 hậu phẫu ở cả 3 phác đồ gây mê (PS, S và P).
- Đánh giá toàn diện mối tương quan giữa nồng độ men gan phóng thích với mức độ rộng của diện cắt gan (cắt gan lớn so với cắt gan nhỏ), thời gian kẹp mạch máu, thời gian phẫu thuật, thời gian gây mê và lượng máu mất chu phẫu.
- Đánh giá tác động thực tế của phương thức gây mê lên các kết cục lâm sàng quan trọng: tỷ lệ biến chứng suy gan cấp theo tiêu chuẩn Balzan, tỷ lệ biến chứng ngoài gan, thời gian nằm viện và tỷ lệ tử vong chu phẫu.
Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Luận án bổ sung các bằng chứng lâm sàng có giá trị về cơ chế tiền thích nghi và hậu thích nghi bằng thuốc mê hô hấp trên mô gan người có bệnh lý nền mạn tính (nhiễm viêm gan B, C và xơ gan Child-Pugh A), góp phần củng cố lý thuyết bảo vệ cơ quan đích chống lại tổn thương thiếu máu - tái tưới máu trong chuyên ngành Gây mê Hồi sức.
- Về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp một giải pháp gây mê hồi sức an toàn, khả thi, dễ áp dụng tại các cơ sở ngoại khoa gan mật bằng cách sử dụng thuốc mê hô hấp sevofluran sẵn có nhằm tối ưu hóa việc bảo vệ nhu mô gan còn lại trong các phẫu thuật cắt gan phức tạp có kẹp cuống mạch máu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu áp dụng thiết kế làm mù đơn (chỉ làm mù người thu thập và xử lý số liệu; bác sĩ gây mê trực tiếp thực hiện quy trình can thiệp không thể làm mù do đặc thù sử dụng máy bốc hơi sevofluran và máy truyền dịch TCI propofol).
- Tiêu chí đánh giá tổn thương tế bào gan chủ yếu dựa trên các chỉ dấu sinh học gián tiếp (men gan ALT, AST, bilirubin, đông máu) và kết cục lâm sàng; chưa thực hiện được sinh thiết mô học gan sau tái tưới máu để đánh giá thang điểm Suzuki hoặc định lượng trực tiếp các chỉ dấu chuyên sâu như caspase-3, caspase-8, glutamate dehydrogenase (GDH) hay iNOS do điều kiện trang thiết bị và tính xâm lấn trên bệnh nhân.
- Nghiên cứu chỉ giới hạn trên nhóm bệnh nhân có chức năng gan còn bù tốt (Child-Pugh A), chưa đánh giá trên nhóm bệnh nhân có suy giảm chức năng gan mức độ vừa và nặng (Child-Pugh B, C).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá vai trò của tiền thích nghi và hậu thích nghi sevofluran kết hợp với các kỹ thuật bảo tồn mạch máu khác trên nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao hơn (gan nhiễm mỡ nặng, sau hóa trị tắc mạch TACE).
- Triển khai các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và kết hợp định lượng các cytokin tiền viêm chuyên biệt (TNF-$\alpha$, IL-1, IL-6), các gốc oxy hóa tự do và chỉ dấu sinh học phân tử để làm sáng tỏ hơn nữa con đường tín hiệu bảo vệ tế bào của thuốc mê hô hấp trên người Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao cho các đối tượng và chuyên ngành sau:
- Bác sĩ Gây mê Hồi sức: Tham khảo chi tiết phác đồ thực hành lâm sàng về kỹ thuật tiền thích nghi bằng sevofluran (nồng độ MAC, thời gian hít, thời điểm áp dụng trước kẹp mạch máu), cách kết hợp theo dõi BIS và TOF, cũng như chiến lược hồi sức kiểm soát đông máu và bảo tồn chức năng tạng chu phẫu.
- Phẫu thuật viên Ngoại Gan Mật - Tiêu hóa: Nắm bắt các dẫn chứng định lượng về ảnh hưởng của thời gian kẹp mạch máu, kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson ngoài gan và mức độ cắt gan lên mức độ hoại tử tế bào gan sau mổ để phối hợp tối ưu với ê-kíp gây mê.
- Học viên Sau đại học (Nghiên cứu sinh, Bác sĩ Nội trú, Cao học, Chuyên khoa II): Tham khảo cấu trúc thiết kế một thử nghiệm lâm sàng can thiệp ngẫu nhiên có nhóm chứng chuẩn mực trong y học, phương pháp tính cỡ mẫu so sánh hai số trung bình, phương pháp xây dựng tiêu chí chẩn đoán biến chứng (Balzan, KDIGO, Canet) và kỹ thuật phân tích thống kê y sinh học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí nghiên cứu chính được tác giả sử dụng để đánh giá mức độ tổn thương tế bào gan trong luận án là gì?
Tiêu chí nghiên cứu chính là nồng độ đỉnh của men gan ALT và AST sau phẫu thuật cắt gan. Trong đó, nồng độ đỉnh ALT được ưu tiên dùng để tính toán cỡ mẫu do tính chất đặc hiệu cao hơn đối với tổn thương tế bào gan so với AST.
2. Phác đồ can thiệp tiền thích nghi bằng sevofluran ở nhóm PS được tiến hành cụ thể như thế nào?
Ở nhóm PS, bệnh nhân được duy trì mê bằng TCI propofol. Trong khoảng thời gian từ 30 đến 60 phút trước khi phẫu thuật viên tiến hành kẹp mạch máu gan, bác sĩ gây mê ngưng propofol và cho bệnh nhân hít sevofluran nồng độ 1,5 MAC trong 15 phút, sau đó ngưng sevofluran và chuyển lại duy trì mê bằng TCI propofol cho đến khi kết thúc cuộc mổ.
3. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định bao nhiêu bệnh nhân và phân bổ theo phương pháp nào?
Dựa trên công thức so sánh hai số trung bình với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ và lực mẫu 80% ($\beta = 0,20$), cỡ mẫu tối thiểu tính được là 41 bệnh nhân cho mỗi nhóm. Tính thêm 10% dự phòng mất mẫu, tác giả chuẩn bị tổng cộng 135 lá thăm (45 lá thăm cho mỗi nhóm PS, S và P) được bốc ngẫu nhiên đơn từ hộp kín khi bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
4. Biến chứng suy gan sau mổ được chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn nào trong luận án?
Suy gan sau phẫu thuật cắt gan được xác định theo tiêu chuẩn 50-50 của Balzan S. vào ngày hậu phẫu thứ 5, cụ thể khi đồng thời xuất hiện: tỷ lệ Prothrombin giảm dưới 50% (tương đương INR > 1,7) và nồng độ Bilirubin toàn phần huyết tương tăng trên 50 $\mu$mol/L (tương đương > 2,9 mg/dL).
5. Vì sao nghiên cứu chỉ lựa chọn bệnh nhân có xơ gan Child-Pugh A mà loại trừ Child-Pugh B và C?
Nghiên cứu loại trừ bệnh nhân xơ gan Child-Pugh B và C nhằm đảm bảo an toàn phẫu thuật cho người bệnh (phẫu thuật cắt gan trên nền xơ gan mất bù có nguy cơ suy gan tối cấp và tử vong chu phẫu rất cao), đồng thời loại bỏ các yếu tố gây nhiễu nghiêm trọng lên các chỉ số men gan, bilirubin và chức năng đông máu nền trước can thiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ đã thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng được thiết kế bài bản nhằm đánh giá hiệu quả bảo vệ tế bào gan của thuốc mê hô hấp sevofluran trong phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư tế bào gan nguyên phát có kiểm soát mạch máu. Đề tài đã xây dựng thành công phác đồ tiền thích nghi và duy trì mê bằng sevofluran, đồng thời theo dõi toàn diện mức độ hoại tử tế bào gan, động học các chỉ dấu sinh học chức năng gan - đông máu đến 30 ngày sau mổ và các kết cục lâm sàng chu phẫu. Công trình mang lại những đóng góp có giá trị khoa học và thực tiễn cao, cung cấp thêm cơ sở bằng chứng cho chuyên ngành Gây mê Hồi sức trong việc tối ưu hóa chiến lược bảo vệ tạng ở bệnh nhân phẫu thuật gan mật.