Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia đầu tiên tại Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em (CRC 1989) vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Mặc dù hệ thống an sinh xã hội ghi nhận nhiều bước tiến lớn, số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam tính đến cuối năm 2015 vẫn ở mức gần 1,5 triệu em, chiếm khoảng 6,54% tổng dân số trẻ em cả nước. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải quyết độ vênh giữa các chuẩn mực quốc tế trong 54 điều khoản của Công ước CRC với thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ nhóm trẻ em yếu thế tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá tiến trình nội luật hóa các công ước quốc tế vào hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời phân tích thực trạng bảo vệ 10 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu thời gian từ năm 2004 đến năm 2016, đối chiếu từ Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em năm 2004 đến Luật Trẻ em năm 2016. Về không gian, nghiên cứu khảo sát tổng thể trên phạm vi toàn quốc và đi sâu phân tích thực tiễn áp dụng tại một địa bàn điển hình là Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc hệ thống hóa thực trạng của 10 nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo luật định, đồng thời phân tích 4 nhóm trẻ yếu thế mới được bổ sung. Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học nhằm hỗ trợ các cơ quan quản lý giảm thiểu tỷ lệ trẻ em tổn thương, nâng cao hiệu quả can thiệp trợ giúp xã hội đạt mục tiêu bao phủ trên 85% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trước giai đoạn 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người (Human Rights-based Approach) và mô hình bảo vệ trẻ em tiếp cận hệ thống (Systemic Child Protection Approach) được UNICEF định hình từ năm 2003. Khung lý thuyết này chuyển đổi tư duy từ hoạt động từ thiện, nhân đạo thụ động sang việc xác lập nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền của trẻ em.

Bốn khái niệm cốt lõi được làm sáng tỏ trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Quyền trẻ em: Tổng thể các quyền tự nhiên và pháp lý bao gồm 4 nhóm quyền cơ bản (sống còn, bảo vệ, phát triển, tham gia) được quy định trong 54 điều khoản của Công ước CRC 1989.
  2. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Nhóm trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện các quyền cơ bản và hòa nhập cộng đồng theo Điều 40 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em 2004.
  3. Trẻ em có nguy cơ: Trẻ em sống trong gia đình nghèo khó, khuyết thiếu cha mẹ hoặc vùng sâu vùng xa, tiềm ẩn nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
  4. Nội luật hóa điều ước quốc tế: Quá trình chuyển hóa các quy tắc, tiêu chuẩn từ Công ước CRC, Công ước ILO 182 và Tuyên bố 1959 thành các quy phạm pháp luật quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Báo cáo điều tra quốc gia về lao động trẻ em do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố năm 2014, cùng các báo cáo chuyên đề từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Cỡ mẫu phân tích bao gồm dữ liệu khảo sát quốc gia trên 18,3 triệu trẻ em Việt Nam (trong đó có 2,83 triệu trẻ em hoạt động kinh tế) và mẫu khảo sát chọn mẫu thuận tiện kết hợp chọn mẫu mục đích trên 500 trẻ em lang thang tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp với thống kê mô tả là nhằm chỉ ra sự tương thích giữa văn bản quốc tế và luật quốc gia, đồng thời lượng hóa chính xác mức độ tác động của các chính sách an sinh xã hội trong mốc thời gian 2004 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bức tranh đa chiều với 4 phát hiện quan trọng về thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam:

Thứ nhất, tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có xu hướng giảm từ 1,65 triệu em (chiếm 7,10% năm 2008) xuống còn 1,57 triệu em (chiếm 6,54% năm 2010) và duy trì ở mức gần 1,5 triệu em vào năm 2015. Tuy nhiên, mức độ phức tạp lại gia tăng ở 7 trên 10 nhóm đối tượng, đặc biệt là nhóm trẻ bị xâm hại tình dục, trẻ em đường phố và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.

Thứ hai, thực trạng lao động trẻ em còn diễn biến nghiêm trọng. Cả nước có khoảng 1,75 triệu lao động trẻ em (chiếm 9,6% tổng số trẻ em). Trong đó, gần 85% sống ở nông thôn và 67% làm việc trong ngành nông nghiệp. Đáng chú ý, 32,4% (tương đương gần 569.000 em) phải làm việc trên 42 giờ mỗi tuần, kéo theo hệ quả là 96,2% nhóm trẻ làm việc kéo dài này không được đến trường. Có tới 1,315 triệu em (gần 75% lao động trẻ em) đang làm việc trong những điều kiện nặng nhọc, độc hại hoặc thuộc danh mục cấm sử dụng lao động chưa thành niên.

Thứ ba, tình trạng trẻ em lang thang ghi nhận 4.227 em vào cuối năm 2013 với lỗ hổng giáo dục nghiêm trọng: 58,7% bỏ học ở bậc trung học cơ sở và 34% bỏ học ở bậc tiểu học. Tại Hà Nội, khảo sát cho thấy 94,1% trẻ lang thang có nguyện vọng đi học và 71,1% mong muốn được học nghề để tìm kiếm việc làm ổn định.

Thứ tư, công tác cai nghiện ma túy cho người chưa thành niên dựa vào cộng đồng đối mặt với tỷ lệ tái nghiện rất cao, đạt 96% ở trẻ em nam và 90% ở trẻ em nữ theo số liệu thí nghiệm của tổ chức CRS.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu lao động trẻ em (67% nông nghiệp, 16% xây dựng, 17% dịch vụ) cùng tỷ lệ phân bổ thời gian làm việc trên 42 giờ mỗi tuần có thể được trực quan hóa hiệu quả qua biểu đồ hình tròn (Pie Chart) và biểu đồ cột kết hợp bảng số liệu đối chiếu 10 nhóm trẻ hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 2008 - 2015.

Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại trên xuất phát từ áp lực kinh tế hộ gia đình (khoảng 38,2% hộ có trẻ lao động đạt thu nhập trên 4,5 triệu đồng/tháng), sự thiếu hụt mạng lưới nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp và khoảng cách 2 năm tuổi giữa quy định của Việt Nam (dưới 16 tuổi) so với Công ước CRC (dưới 18 tuổi). Bác Hồ từng căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Do đó, việc chuyển đổi từ biện pháp xử lý hành chính, tập trung sang mô hình can thiệp, trợ giúp tại gia đình và cộng đồng là đòi hỏi cấp thiết nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn thi hành Luật Trẻ em 2016. Cơ quan lập pháp và Bộ Tư pháp cần nghiên cứu lộ trình nâng độ tuổi trẻ em từ dưới 16 tuổi lên dưới 18 tuổi nhằm tương thích hoàn toàn với Điều 1 Công ước CRC. Mục tiêu đạt 100% các nhóm trẻ em nguy cơ cao và 14 nhóm hoàn cảnh đặc biệt được quy định chi tiết về cơ chế bảo vệ trước năm 2020.

Thứ hai, xây dựng và nhân rộng hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em 3 cấp độ (phòng ngừa, can thiệp giảm thiểu và phục hồi tái hòa nhập). Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm đầu mối phát triển mạng lưới công tác xã hội chuyên trách tại cấp xã/phường, đặt chỉ tiêu giảm tỷ lệ tái nghiện ma túy xuống dưới 50% và hỗ trợ đào tạo nghề, hồi gia cho 85% trẻ em lang thang trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ ba, thanh tra và xử lý nghiêm các hành vi bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục trẻ em. Thanh tra ngành Lao động phối hợp với các cơ quan tư pháp tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất tư nhân, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ lao động trẻ em làm việc quá 42 giờ/tuần từ 32,4% xuống dưới 15% vào năm 2020.

Thứ tư, tăng cường phân bổ nguồn ngân sách địa phương và đẩy mạnh xã hội hóa an sinh. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố (học tập mô hình Thành phố Hải Dương) cần dành tối thiểu 1,5% đến 2% chi ngân sách địa phương hàng năm cho các quỹ hỗ trợ trẻ em yếu thế, bảo đảm mọi trẻ khuyết tật và trẻ mồ côi đều được tiếp cận giáo dục hòa nhập và chăm sóc y tế miễn phí.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp (Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp): Nắm bắt các luận cứ khoa học và khoảng trống pháp lý để soạn thảo các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Trẻ em 2016.
  2. Cán bộ tư pháp và cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Công an): Ứng dụng quy trình tố tụng thân thiện và các chuẩn mực quốc tế trong xử lý các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật hoặc trẻ em bị xâm hại tình dục.
  3. Các tổ chức phi chính phủ và nhân viên công tác xã hội (UNICEF, Quỹ Bảo trợ Trẻ em, các mái ấm tình thương): Khai thác bộ số liệu 1,75 triệu lao động trẻ em và dữ liệu trẻ lang thang để xây dựng các dự án can thiệp cộng đồng, hỗ trợ tâm lý và dạy nghề hướng nghiệp.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Nhân quyền, Xã hội học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu so sánh điều ước quốc tế và đánh giá thực thi an sinh xã hội tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Luật Trẻ em 2016 đã bổ sung những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nào so với Luật năm 2004? Luật Trẻ em 2016 bổ sung 4 nhóm đối tượng mới gồm: trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bạo lực; trẻ em bị bóc lột; trẻ em bị mua bán; và trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo thuộc hộ nghèo/cận nghèo. Quy định này nâng tổng số nhóm trẻ em được bảo vệ đặc biệt lên 14 nhóm.

Độ tuổi trẻ em theo luật pháp Việt Nam khác biệt như thế nào so với Công ước CRC 1989? Điều 1 Công ước CRC 1989 xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam (Luật 2004 và Luật 2016) quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Khoảng cách 2 năm tuổi này tạo ra sự gián đoạn trong các chính sách bảo trợ xã hội và tư pháp vị thành niên.

Thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam tập trung chủ yếu ở những khu vực nào? Khảo sát quốc gia năm 2014 cho thấy Việt Nam có khoảng 1,75 triệu lao động trẻ em, trong đó gần 85% cư trú tại khu vực nông thôn và 67% tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, chủ yếu dưới hình thức lao động hộ gia đình không hưởng lương.

Vì sao Công ước CRC khuyến nghị không hình sự hóa việc trẻ em sử dụng ma túy? Điều 33 và Điều 39 Công ước CRC xác định trẻ em sử dụng ma túy là nạn nhân cần được bảo vệ, điều trị y tế và phục hồi chức năng tâm lý xã hội. Việc áp dụng biện pháp giam giữ hành chính hoặc trừng phạt hình sự làm gia tăng kỳ thị và đẩy tỷ lệ tái nghiện lên đến 96%.

Thực tiễn bảo vệ quyền trẻ em tại Thành phố Hải Dương mang lại bài học kinh nghiệm gì? Thành phố Hải Dương đạt kết quả nổi bật nhờ sự cam kết của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc chủ động bố trí ngân sách, xây dựng mạng lưới giám sát cơ sở và triển khai kịp thời các gói trợ cấp cho trẻ khuyết tật, trẻ mồ côi trên địa bàn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện 54 điều khoản của Công ước CRC 1989 và đánh giá quá trình nội luật hóa vào pháp luật Việt Nam.
  • Nghiên cứu làm rõ thực trạng của gần 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cùng 1,75 triệu lao động trẻ em trên toàn quốc.
  • Công trình chỉ rõ độ vênh pháp lý giữa chuẩn mực quốc tế 18 tuổi và quy định quốc gia 16 tuổi, ảnh hưởng đến quyền lợi của người chưa thành niên.
  • Đánh giá thành công mô hình an sinh xã hội thực tiễn tại Thành phố Hải Dương trong việc trợ giúp trẻ em thiệt thòi.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, kết hợp chặt chẽ giữa hoàn thiện lập pháp, can thiệp công tác xã hội và thanh tra lao động.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho lộ trình thực thi Luật Trẻ em giai đoạn 2016 - 2020. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý cần tiếp tục đẩy mạnh phương pháp tiếp cận dựa trên quyền nhằm bảo đảm tương lai phát triển toàn diện cho mọi trẻ em.