CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ 1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc trong môi trường kỹ thuật số Lịch sử về quyền tác giả đã chỉ ra rằng ý niệm về quyền tác giả đã xuất hiện lần đầu tiên trong xã hội Hy Lạp. Vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên đã xuất hiện khái niệm về “bản thân cá nhân” (individual self), nó bao gồm lý tưởng cá nhân, hoài bão và sức sáng tạo. “Bản thân cá nhân” rất quan trọng trong bản quyền vì nó phân biệt sự sáng tạo do một cá nhân tạo ra với những người khác trong xã hội.
Trong luật Talmudic của người Do Thái cổ đại có thể được tìm thấy sự công nhận quyền nhân thân của tác giả và quyền kinh tế hoặc tài sản của một tác giả2. Tuy nhiên đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, quyền tác giả ra đời mới thật sự được định hình một cách rõ rệt. Thông qua độc quyền về in ấn đã giúp cho các tác phẩm được sao chép một cách nhanh chóng mà không cần phải chép tay như trước. Từ đây những cuốn sách được in ra với số lượng lớn mà giá cả thấp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tác giả tạo ra tác phẩm.
Đứng trước những thách thức lớn này các quốc gia bắt buộc phải ban hành một Đạo luật nhằm bảo hộ quyền của tác giả. Đạo luật đầu tiên về quyền tác giả trên thế giới được các học giả đồng tình là Đạo luật của nữ hoàng Anne năm 1710 (Statute of Anne). Đạo luật có nội dung cơ bản là bảo hộ quyền lợi của tác giả trong thời hạn 14 năm và được phép gia hạn thêm 14 năm tiếp theo nếu tác giả của cuốn sách vẫn còn sống khi thời hạn bảo hộ đầu tiên đã hết. Đạo luật cũng yêu cầu nhà in phải ký quỹ bản sao của mọi cuốn sách được in trong chính thư viện.
Đến năm 1911 thì đã được gọi là Đạo luật bản quyền hoàng gia và được áp dụng trên toàn lãnh thổ Anh3. Đạo luật Anne đã ảnh hưởng đến sự phát triển ban đầu của quyền tác giả ở Hoa Kỳ. Và cuối cùng, cùng với phán quyết của Donaldson V Beckett, đã thúc đẩy việc 2 Asherry Magalla (2015), What are the problems of protection of copyright on the internet? what are the legal remedies for solving the problem, The University of Iringa, tr. 3 Asherry Magalla (2015), tlđd (2), tr.
8 thông qua điều khoản Hiến pháp Hoa Kỳ đề cập đến quyền SHTT vào năm 17874, và đến thế kỷ XVIII đánh dấu sự ra đời của Luật Bản quyền Hoa Kỳ 1790. Sau đó, hai Bộ luật vào năm 1791 và 1793 đầu tiên của Pháp liên quan đến quyền sở hữu của tác giả đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tác giả sau này ở Pháp5. Lịch sử quyền tác giả đánh dấu một cột mốc quan trọng vào năm 1886 khi Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật ra đời tại Thuỵ Sỹ, Công ước đã ghi nhận cho phép tác giả được hưởng quyền tác giả suốt đời và thêm 50 năm sau khi tác giả qua đời, hiện nay Công ước đã có trên 160 quốc gia là thành viên. Tại Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu về lịch sử quyền tác giả đều dựa vào pháp luật thực định để tìm ra thời điểm bảo hộ quyền tác giả bắt đầu từ khi nào.
Và quan điểm chung của các tác giả đều cho rằng quyền tác giả thật sự bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX thông qua bản Hiến pháp năm 1980. Theo đó, Hiến pháp cho phép công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, sáng tác văn học, nghệ thuật và quyền lợi của tác giả được pháp luật bảo hộ. Hiện nay, khó có thể hình dung trước khi tiếp cận các quy định về quyền tác giả của phương Tây, Việt Nam có thể có bất kỳ một thực tiễn hoặc quy định nào về quyền tác giả. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy một “bức tranh” khác.
Từ trước khi Pháp thiết lập chế độ thực dân ở Việt Nam thì đã tồn tại việc thừa nhận, chuyển nhượng các quyền đối với sáng tạo văn học, nghệ thuật tại nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam. Quan trọng hơn người dân biết vận dụng các quy định pháp luật thành văn, nhất là về tài sản và hợp đồng để điều chỉnh và các quyền đối tác phẩm văn học, nghệ thuật đó6. Tuy còn có nhiều quan điểm khác nhau về lịch sử quyền tác giả, nhưng nhìn chung vì điều kiện lịch sử nên sự phát triển của hệ thống pháp luật về quyền tác giả tại Việt Nam hình thành muộn hơn so với các nước trên thế giới. Sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) năm 1976 là bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật SHTT nói chung và quyền tác giả nói 4 Orit Fischman Afori (2012), The evolution of copyright law and inductive speculations as to its future, Research Gate, Vol.
5 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nxb. Hồng Đức, tr. 6 Trần Kiên (Chủ biên) (2020), Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam dưới thời Pháp thuộc di sản lập pháp và án lệ, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên ghi nhận bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam8, trên cơ sở đó thì Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 142/HĐBT với nhiều nội dung quan trọng về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc nói riêng. Mặc dù lịch sử ra đời pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ở Việt Nam muộn hơn so với các nước trên thế giới, tuy nhiên về cơ bản hiện nay khung pháp lý về bảo hộ đối với tác phẩm âm nhạc cũng đã hoàn thành và dần hoàn thiện, hơn hết là có những nội dung phù hợp với các công ước, hiệp định mà Việt Nam là thành viên. Với xu hướng chung về hoàn thiện chế độ pháp lý cao nhất trong việc bảo hộ và thực thi quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc thì Bộ luật Dân sự năm 1995 đã ghi nhận bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc. Bên cạnh đó để đáp ứng tiêu chuẩn khi tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng và đặc biệt là tham gia các công ước, hiệp định về bảo hộ quyền tác giả, nổi bật là các Hiệp định tự do thế hệ mới thì Luật SHTT cũng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và tiếp theo vào năm 2019 nhằm phù hợp với xu thế chung về quyền tác giả. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc trong môi trường kỹ thuật số 1. Khái niệm tác phẩm âm nhạc Khoản 1 Điều 2 Công ước Berne đã đưa ra “Thuật ngữ “Các tác phẩm văn học và nghệ thuật” bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài 7 Đỗ Huỳnh Yến Vy (2020), Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và kinh nghiệm đối với Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 8 Điều 72 Hiến Pháp 1980 “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, sáng tác văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác.
Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ công dân theo đuổi sự nghiệp khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật nhằm phục vụ đời sống, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bồi dưỡng, phát huy sở trường và năng khiếu cá nhân. Quyền lợi của tác giả và của người sáng chế, phát minh được bảo đảm”. 10 thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời,. Mặc dù Công ước đã đưa ra các tác phẩm văn học và nghệ thuật trong đó chỉ ra các tác phẩm âm nhạc có lời hoặc không lời là đối tượng được bảo hộ, tuy nhiên, Công ước lại không nêu ra cụ thể thế nào là tác phẩm âm nhạc, mà để cho các quốc gia là thành viên quy định chi tiết bằng việc nội luật hoá các quy định của Công ước.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về tác phẩm âm nhạc. Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) đã định nghĩa về “tác phẩm âm nhạc” như sau: “Bất kỳ tác phẩm nào bao gồm âm thanh hoặc chỉ chứa các ký tự âm nhạc ngay cả khi không bao gồm lời hay bất kỳ hành động nào nhằm mục đích được hát, nói hay biểu diễn với âm nhạc thì được coi là tác phẩm âm nhạc”. “Tác phẩm âm nhạc” đã được mô tả như là “một tác phẩm âm thanh được sáng tạo một cách trừu tượng để có thể biểu diễn qua âm thanh ngay cả khi không có lời”. Còn theo định nghĩa về tác phẩm âm nhạc – “musical work” trong từ điển tiếng Anh thì có thể hiểu tác phẩm được coi là tác phẩm âm nhạc nếu chứa đựng nốt nhạc và lời hát (nếu có).
Tác phẩm âm nhạc có thể thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có thể là một phần hoặc toàn bộ bản nhạc hay đĩa nhạc ghi lại trong đĩa nhạc9. Còn theo pháp luật Việt Nam, tại điểm d khoản 1 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT 2005) ghi nhận tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ trong đó có tác phẩm âm nhạc.