Luận văn Thạc sĩ: Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, nêu rõ các quy định và thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

104
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN

1.1. Khái quát chung về quyền liên quan

1.2. Khái niệm về quyền liên quan

1.3. Đặc điểm của quyền liên quan

1.4. Chủ thể của quyền liên quan

1.4.1. Người biểu diễn

1.4.2. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

1.4.3. Tổ chức phát sóng

1.5. Sự cần thiết phải bảo hộ quyền liên quan

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN

2.1. Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam hiện hành

2.2. Người biểu diễn

2.3. Chủ sở hữu cuộc biểu diễn

2.4. Chủ thể khác

2.5. Quyền và nghĩa vụ của người biểu diễn

2.6. Quyền nhân thân của người biểu diễn

2.7. Quyền tài sản của người biểu diễn

2.8. Nghĩa vụ của người biểu diễn

2.9. Giới hạn quyền của người biểu diễn

2.9.1. Các nguyên tắc giới hạn quyền của người biểu diễn

2.9.2. Các trường hợp giới hạn quyền của người biểu diễn

2.10. Thời hạn bảo hộ

2.11. Bảo vệ quyền của người biểu diễn

2.11.1. Các dạng hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn

2.11.2. Xác định hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn

2.11.3. Các biện pháp bảo vệ quyền của người biểu diễn

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

3.1. Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam

3.2. Thực tiễn đăng ký và khai thác quyền của người biểu diễn

3.3. Thực tiễn xâm phạm quyền của người biểu diễn

3.4. Thực tiễn bảo vệ quyền của người biểu diễn

3.5. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền của người biểu diễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam

Bảo hộ quyền của người biểu diễn là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Quyền của người biểu diễn không chỉ liên quan đến việc bảo vệ tài sản trí tuệ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nghệ thuật và văn hóa. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của người biểu diễn, tuy nhiên, việc thực thi và nhận thức về quyền này vẫn còn nhiều hạn chế. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, cần phân tích các khái niệm cơ bản và các quy định pháp luật hiện hành.

1.1. Khái niệm về quyền của người biểu diễn

Quyền của người biểu diễn được định nghĩa là quyền của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện các tác phẩm nghệ thuật trước công chúng. Điều này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân bảo vệ danh dự, uy tín của người biểu diễn, trong khi quyền tài sản liên quan đến lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tác phẩm.

1.2. Đặc điểm của quyền liên quan trong pháp luật Việt Nam

Quyền liên quan trong pháp luật Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt. Đầu tiên, quyền này không chỉ bảo vệ tác giả mà còn bảo vệ những người thực hiện tác phẩm. Thứ hai, quyền liên quan có tính chất kề cận với quyền tác giả, nghĩa là nó phụ thuộc vào sự tồn tại của tác phẩm gốc. Cuối cùng, quyền này có thể bị xâm phạm bởi nhiều hình thức khác nhau, từ việc sao chép trái phép đến việc phát sóng mà không có sự đồng ý.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo hộ quyền của người biểu diễn

Mặc dù pháp luật đã có những quy định bảo vệ quyền của người biểu diễn, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hiểu biết của người biểu diễn về quyền lợi của họ. Nhiều nghệ sĩ không nắm rõ các quy định pháp luật, dẫn đến việc họ không thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả. Hơn nữa, việc thực thi pháp luật cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu các cơ chế giám sát và xử lý vi phạm.

2.1. Thiếu nhận thức về quyền lợi của người biểu diễn

Nhiều người biểu diễn không biết rõ về quyền lợi của mình, dẫn đến việc họ không thể yêu cầu bảo vệ khi quyền lợi bị xâm phạm. Điều này đặc biệt phổ biến trong các nghệ sĩ trẻ hoặc những người mới vào nghề. Họ thường không được trang bị kiến thức cần thiết về pháp luật sở hữu trí tuệ.

2.2. Khó khăn trong việc thực thi pháp luật

Việc thực thi pháp luật về bảo hộ quyền của người biểu diễn gặp nhiều khó khăn do thiếu các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Nhiều trường hợp vi phạm không được xử lý kịp thời, dẫn đến tình trạng xâm phạm quyền lợi của người biểu diễn diễn ra phổ biến.

III. Phương pháp bảo vệ quyền của người biểu diễn hiệu quả

Để bảo vệ quyền của người biểu diễn một cách hiệu quả, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc nâng cao nhận thức về quyền lợi của người biểu diễn là rất quan trọng. Đồng thời, cần có các cơ chế pháp lý rõ ràng để xử lý các hành vi xâm phạm quyền lợi. Các tổ chức nghệ thuật cũng cần hỗ trợ nghệ sĩ trong việc bảo vệ quyền lợi của họ.

3.1. Nâng cao nhận thức cho người biểu diễn

Các chương trình đào tạo và hội thảo về quyền sở hữu trí tuệ cần được tổ chức thường xuyên để nâng cao nhận thức cho người biểu diễn. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình và cách thức bảo vệ quyền lợi khi cần thiết.

3.2. Tăng cường cơ chế pháp lý

Cần có các quy định pháp luật rõ ràng và cụ thể hơn về quyền của người biểu diễn. Các cơ quan chức năng cần có trách nhiệm trong việc giám sát và xử lý các hành vi xâm phạm quyền lợi của người biểu diễn một cách nghiêm túc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền của người biểu diễn

Nghiên cứu về quyền của người biểu diễn đã chỉ ra rằng việc bảo vệ quyền lợi của họ không chỉ là trách nhiệm của pháp luật mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Các tổ chức nghệ thuật, nhà sản xuất và các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi của người biểu diễn được bảo vệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi quyền lợi của người biểu diễn được bảo vệ tốt, chất lượng nghệ thuật cũng sẽ được nâng cao.

4.1. Thực tiễn bảo vệ quyền của người biểu diễn

Thực tiễn cho thấy, nhiều nghệ sĩ đã thành công trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các tổ chức nghệ thuật. Họ đã được hỗ trợ trong việc đàm phán hợp đồng và bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp xảy ra.

4.2. Kết quả nghiên cứu và đề xuất

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bảo vệ quyền của người biểu diễn cần được thực hiện một cách đồng bộ và có hệ thống. Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho người biểu diễn, từ đó nâng cao chất lượng nghệ thuật và bảo vệ quyền lợi cho họ.

V. Kết luận và tương lai của bảo hộ quyền của người biểu diễn

Bảo hộ quyền của người biểu diễn là một vấn đề cần được quan tâm và đầu tư đúng mức. Trong tương lai, cần có những cải cách pháp lý để đảm bảo quyền lợi của người biểu diễn được bảo vệ tốt hơn. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghệ thuật mà còn góp phần phát triển văn hóa và xã hội. Việc bảo vệ quyền lợi của người biểu diễn cần được thực hiện một cách đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức nghệ thuật.

5.1. Định hướng phát triển trong bảo hộ quyền của người biểu diễn

Trong tương lai, cần có các chính sách cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người biểu diễn. Các tổ chức nghệ thuật cần đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nghệ sĩ trong việc bảo vệ quyền lợi của họ.

5.2. Tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi người biểu diễn

Bảo vệ quyền lợi của người biểu diễn không chỉ là trách nhiệm của pháp luật mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Khi quyền lợi của người biểu diễn được bảo vệ, chất lượng nghệ thuật sẽ được nâng cao, góp phần phát triển văn hóa và xã hội.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I “Quyền tác giả”, Mục 4 “Quyền, nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát thanh truyền hình”. Nhìn chung, các quy định này bao quát khá toàn diện các vấn đề, từ định nghĩa tác giả chủ sở hữu quyền tác giả, 17 người biểu diễn, tổ chức ghi âm, ghi hình, tổ chức phát thanh truyền hình tới quyền, nghĩa vụ và địa vị pháp lý của họ. Để hướng dẫn thi hành các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan tại Bộ luật Dân sự nhiều văn bản dưới luật đã được ban hành như: Nghị quyết số 35/2004/QH 11 ngày 25/12/2004 của Quốc hội về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội năm 2005; cùng với nhu cầu cấp bách phải có một hành lang pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ đáp ứng được các quy tắc chung của thế giới, đủ điều kiện gia nhập WTO của Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ đã được Chính phủ giao chủ trì xây dựng Luật sở hữu trí tuệ. Trong một thời gian rất ngắn, từ ngày 27/12/2004 thành lập Ban soạn thảo liên ngành đến ngày 7/2/2005 thì bản Dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ (lần 2) đã được hoàn chỉnh để gửi xin ý kiến.

Dự thảo này gồm 14 chương với 479 điều điều chỉnh toàn diện quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới. Tại kỳ họp Quốc hội thứ 10, ngày 29/11/2005 Luật Sở hữu trí tuệ (luật số 50/2005/QH10) đã được Quốc hội thông qua với số phiếu gần như tuyệt đối (368/370) và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2006. Ngay sau khi Luật Sở hữu trí tuệ 2005 ra đời và đi vào thực tiễn điều chỉnh các quan hệ có liên quan trong xã hội, Chính phủ, các Bộ và Cơ quan có liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn về việc thực hiện các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Trong lĩnh vực quyền liên quan, có các văn bản hướng dẫn thi hành luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Trải qua hơn 3 năm kể từ ngày có hiệu lực, một số các quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã không còn phù hợp với thực tế. Một số điều khoản chưa tương thích với pháp luật quốc tế như quy định về giới hạn quyền tác giả (Điều 26), giới hạn quyền liên quan (Điều 33) chưa phù hợp với công ước Berne, nội dung quyền đối với giống cây trồng quy định tại các Điều 157, 18 160, 163, 165, 178, 186, 187, 188, 190, 194 chưa tương thích với công ước UPOV. Bên cạnh đó một số quy định qua thực tế thi hành còn bộc lộ những hạn chế, bất cập như các quy định về thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp tại các Điều 87, 90, 119, 134, 154; các quy định về thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ tại các Điều 201, 211, 214, 216, 218. Một số vấn đề mới phát sinh trong quá trình hội nhập phải đáp ứng nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với pháp nhân và công dân nước ngoài, như vấn đề thời hạn bảo hộ quyền tác giả (Điều 27) cần được kéo dài hơn so với quy định hiện hành.

Chính những quy định còn bất cập này đã gây cản trở cho hoạt động của các chủ thể liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có chủ thể quyền liên quan. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ 2005 là cần thiết. Do đó, ngày 19/06/2009 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ 2005 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Việc ký kết và tham gia các điều ước quốc tế về quyền liên quan Hiện nay, trên bình diện quốc tế quyền liên quan được bảo hộ tại các công ước như Công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (Công ước Rome 1961); Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ (Công ước Geneva 1971); Công ước liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh (Công ước Brussels 1974); Thỏa thuận TRIPS về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ; Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và Bản ghi âm (WPPT) năm 1996.

Việt Nam hiện cũng đã gia nhập hầu hết các điều ước quốc tế. Theo thông tin từ trang web www.int của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Tổng giám đốc WIPO đã có Thông báo số 83 về việc Việt Nam gia nhập Công ước Geneva. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 6/7/2005. 19 Một trong các Công ước quan trọng về bảo hộ quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng mà Việt Nam đã gia nhập là Công ước Rome, Công ước Rome ra đời năm 1961 tại Rome Italia, Việt Nam chính thức gia nhập và trở thành thành viên của công ước vào ngày 01/03/2007 và là thành viên thứ 86 của công ước này.

Công ước quốc tế liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh được ra đời tại Brussels ngày 21/05/1974. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của công ước này vào ngày 12/01/2006. Ngoài các Điều ước quốc tế, việc ký kết các Hiệp định song phương về bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Một trong các Hiệp định lớn và quan trọng đối với Việt Nam là Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. 20 Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN 2. Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam hiện hành Các công ước quốc tế và pháp luật quốc gia đã công nhận và quy định về quyền của người biểu diễn. Theo đó, những người tham gia thể hiện cuộc biểu diễn mà phổ biến là những người tham gia trình bày các tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học mới được hưởng các quyền của người biểu diễn.

Để xác định thế nào là một tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học lại cần đối chiếu với khái niệm tác phẩm theo quy định của pháp luật từng nước. Theo luật Việt Nam, tác phẩm là “sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” [16, Điều 4, khoản 7]. Do đó, mọi thành quả của quá trình sáng tạo trong văn học, nghệ thuật hay khoa học đã được định hình đều có thể trở thành đối tượng để biểu diễn và khi các thành quả của quá trình sáng ta ̣o này đươ ̣c biể u diễn sẽ trở thành đố i tươ ̣ng đươ ̣c bảo hô ̣ quyền liên quan còn người biể u diễn các thành quả đó sẽ được hưởng các quyền của người biểu diễn theo quy định của pháp luật. Theo Luâ ̣t Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy đinh ̣ cuô ̣c biể u diễn đươ ̣c bảo hô ̣ nế u thuô ̣c mô ̣t trong các trường hơ ̣p sau đây: a) Cuô ̣c biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoă ̣c nước ngoài; b) Cuô ̣c biể u diễn do người nước ngoài thực hiê ̣n ta ̣i Viê ̣t Nam ; c) Cuô ̣c biể u diễn đươ ̣c đinh ̣ hình trên bản ghi âm , ghi hình đươ ̣c bảo hô ̣ theo quy đinh ̣ ta ̣i Điề u 30 của Luật này; d) Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi 21 hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật này; đ) Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [16, Điề u 17, Khoản 1].

Như vậy, để một cuộc biểu diễn đư ợc bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ Viê ̣t Nam thì nó phải đáp ứng các điề u kiê ̣n sau đây: - Thứ nhấ t, theo nguyên tắc hiệu lực lãnh thổ của quyền tác giả thì nơi thực hiện cuộc biểu diễn cũng là một trong những điều kiện bảo hộ cuộc biểu diễn. Pháp luật các nước thường chỉ bảo hộ cuộc biểu diễn của công dân nước mình, cuộc biểu diễn được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mình và các trường hợp khác tùy thuộc vào các Hiệp định song phương hoặc đa phương về các vấn đề có liên quan mà quốc gia tham gia hoặc ký kết. Ngoài các nguyên tắc được quy định trong các Điều ước quốc tế như nguyên tắc đối xử công dân, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Hiệp định TRIPS) tại Khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định với các cuộc biểu diễn mà người biểu diễn là công dân Việt Nam dù được thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra, cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam cũng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và một số trường hợp cụ thể khác theo quy định của pháp luật.

- Thứ hai, một trong các điều kiện để cuộc biểu diễn được bảo hộ là cuộc biểu diễn đó được thực hiện lần đầu hoặc được định hình lần đầu (điều kiện về hình thức hoặc thực hiện). Quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. Như vậy, kể từ thời điểm cuộc biểu diễn được định hình hoặc thực hiện thì sẽ làm phát sinh quyền của người biểu diễn. Theo quy định tại điểm c Điều 2 Hiệp ước WPPT thì định hình là: “sự biểu hiện các âm thanh, hoặc sự tái hiện lại biểu hiện này, từ đó các âm 22 thanh có thể được cảm nhận, được sao chép hoặc truyền đạt qua một thiết bị nào đó”.

Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan thì định hình được hiểu là: “sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt” [16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ