Chương 1: Một số vấn đề chung về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ. Chương 2: Quy định của pháp luật lao động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLD và thực trạng áp dụng. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện PLLD bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ. CHƯƠNG ï MOT SO VAN DE CHUNG VE VIỆC BẢO VỆ QUYEN VÀ LỢI ÍCH HOP PHAP CUA NSDLD 1.
SU CAN THIET BAO VE NSDLD 1. Quan hệ lao động va thi trường lao động 1. Quan hệ lao động BLLĐ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 (da sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định: BLLD điêu chỉnh QHLĐ giữa NLD làm công ăn lương với NSDLĐ và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với QHLDP. Có thé nói day là loại QHLD tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động chủ yếu và phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Trong mối quan hệ này, các chủ thể (NLD-NSDLD) khi tham gia hoàn toàn được tự do, bình đẳng, tự nguyện tự thoả thuận với nhau các vấn đề liên quan đến lao động trên cơ sở phù hợp với pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay, chúng ta đã và đang phát triển nên kinh tế thị trường trên cơ sở của nền kinh tế kế hoạch hoá tồn tại trong một thời gian dài. Hơn nữa, mô hình kinh tế thị trường của nước ta là mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên QHLD ở Việt Nam có những nét đặc trưng riêng: - Thứ nhất, các yếu tố tạo lập QHLĐ chưa đồng bộ mang tính tự phát, phân tán, manh mún Người mua, người bán, hàng hóa, sự di chuyển lao động.chính là các yếu tố quan trong trong QHLĐ. Khi nền kinh tế thị trường phát triển, NLD- NSDLD đã xác lập một QHLĐ song nhiều khi cách cư xử của họ với các yếu tố trong QHLD đó lại chưa được đúng đắn và chuẩn mực.
Nguyên nhân chính nằm ở chỗ chúng ta đã duy trì một nền kinh tế thụ động theo cơ chế “xin-cho” quá dài, nó góp phần làm cho ý thức hệ của các bên chủ thể có phần lệch lạc, không xác định đúng địa vị pháp lý của mình. Sự hạn chế về hiểu biết pháp luật của các chủ thể cũng là nguyên nhân chủ yếu làm cho các QHLĐ ở Việt Nam thụ động, y lại vào Nhà nước. Cần phải nhìn thẳng vào một sự thật rằng, NLD ở Việt Nam chưa biết tự tạo cho mình một việc làm, chưa “động não” một cách thật sự trong khi làm việc. Điều đó dẫn đến một nghịch lý rằng, nguồn lao động của nước ta quá nhiều nhưng NSDLD rất khó khăn trong việc tuyển dụng được NLD biết cách làm việc.
Bên cạnh đó, khi nói đến tính tự phát của QHLĐ ở Việt Nam cần phải nghĩ ngay đến sự di chuyển của lao động giữa các vùng, miền. Sự tràn ra một cách ào ạt của lao động từ nông thôn ra thành thị, từ miền Bắc, miền Trung vào miền Nam trong khi các thị trường đó, lượng người đã quá tải. Điều đó đã làm cho thị trường lao động ở các vùng, miền bị mất cân đối nghiêm trọng. - Thif hai, sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung va cầu lao động ở nước ta vẫn đang tiếp tục tăng mạnh.
Bao lâu nay vẫn tồn tại một quan niệm “thà làm thầy dốt còn hơn làm thợ giỏi”, có nghĩa rằng, đối với mọi người bất đắc dĩ lắm mới cho con em mình đi học nghề hoặc làm những công việc chân tay. Vô hình trung, chúng ta đã tạo ra nhiều thế hệ quá thừa những NLD trí óc có trình độ trung bình hoặc kém nhưng lại quá thiếu những người thợ có đôi bàn tay vàng mà chính đội ngũ lao động trí óc bình thường kia nếu đi học nghề rất có thể sẽ trở thành những người thợ giỏi. Đó là một nghịch lý đáng buồn. Mặc dù cơ cấu dân số nước ta thuộc loại hình cơ cấu dân số trẻ, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 50%, trên độ tuổi lao động chiếm 13%, dưới độ tuổi lao động chiếm 37%, lực lượng lao động tự nhiên mỗi năm tăng 1,2 triệu người [12, tr 66] nhưng chúng ta vừa thiếu lại vừa thừa lao động, hầu như các chức danh như cố vấn, chuyên gia, cán bộ quản lý kỹ thuật vẫn do người nước ngoài đảm nhiệm chứ lao động Việt Nam chưa thể đáp ứng được.
- Thứ ba, qúa trình phân hoá biến đổi của QHLĐ đang diễn ra trên thị trường lao động. Cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường thì QHLĐ cũng có sự thay đổi, sắp xếp lại cho phù hợp. Hình thức HĐLĐ đã tạo một cơ chế mở cho NLĐ và NSDLĐ có được sự tự chủ hơn trong việc quyết định công việc của minh. Theo khảo sát cho thấy, việc triển khai, tổ chức ký HDLD trong các doanh nghiệp nhà nước đạt tỷ lệ tương đối cao (năm 1997 là 82%{22, tr.6} và tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 là 90,7%{23, tr.
Tuy nhiên, NLD ở Việt Nam vẫn có tâm lý thích làm việc trong khu vực nhà nước hơn khu vực tư nhân dù rằng pháp luật không có sự phân biệt địa vị pháp lý của NLD ở hai khu vực này. Bên cạnh đó, sự phân hoá còn diễn ra ở từng vùng, miền, từng khu vực nông thôn nơi có khu công nghiệp dang mọc lên. Tóm lại, QHLD ở Việt Nam hiện nay đang ở trong quá trình biến đổi và có diễn biến khá phức tạp đòi hỏi chúng ta phải có một hệ thống PLLD đồng bộ, thống nhất. - Thif tv, QHLD ở nước ta mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây là điểm đặc thù mà không quốc gia nào có được, là sự kết hợp giữa việc chấp nhận nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản nhưng vẫn bảo vệ tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc vừa “/>a nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức thuê mướn lao động nhưng không để biến thành quan hệ thống trị dẫn tới sự phân hoá xã hội thành hai thái cực đối lậpˆ{ 12, tr.12} trên thực tế là rất khó, nó đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn biện chứng, khách quan, đánh giá đúng tầm quan trọng của các yếu tố đó, đảm bảo sự hài hoà lợi ích trong quan hệ của NLD và NSDLĐ. Thị trường lao động Hiện nay, tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường lao động. Theo Adam Smith thì thị trường như là một không gian trao đổi dịch vụ lao động (hàng hoá sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (NSDLD) và một bên là người bán sức lao động (NLD).
Theo Từ điển kinh tế MIT, thị trường lao động như các thị trường khác là noi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau. Còn theo Dai Từ điển Kinh tế thị trường, Hà Nội, 1998 thì : Thi frường lao động được coi là nơi mua ban sức lao động diễn ra giữa NLD (cung lao động) và NSDLĐ (cau lao động). Từ những quan niệm trên đây có thể rút ra khái niệm thị trường lao động hiểu theo nghĩa hẹp như sau: Thi trong lao động là nơi diễn ra sự trao đổi theo nguyên tắc thoả thuận về các quan hệ lao động (việc làm, tiển công và các điều kiện làm việc khác) gitta NLD (phía cung lao động) và NSDLD (phía cau lao động) dưới hình thúc HĐL?) {11, tr. 22} Cũng như các thị trường khác, thị trường lao động Việt Nam mang những đặc điểm chung như sau: - Thị trường lao động hoạt động theo các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật về cung cầu, quy luật về tối đa hoá lợi nhuận.
- Hàng hoá được đem ra trao đổi trên thị trường lao động là sức lao động tức là toàn bộ hay một phần khả năng lao động của con người (thể lực, trí lực, tâm lực) được huy động vào sản xuất ra sản phẩm có giá trị nhất định. Đó là loại hàng hoá đặc biệt - hàng hoá sức lao động, gắn liền không thể tách rời con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần. Hàng hoá sức lao động sau khi được trao đổi đưa vào sử dụng trở thành yếu tố đầu vào của sản xuất và tham gia tích cực chủ động vào việc sử dụng các yếu tố đầu vào khác của sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ) để tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. - Quan hệ cung cầu trên thị trường lao động không giống như quan hệ giữa người mua và người bán hàng hoá thông thường được chi phối bởi yếu tế duy nhất là giá cả hàng hóa mà là quan hệ thoả thuận giữa các bên trong QHLD (làm việc và nghỉ ngơi, tiền công, tiền lương, BHXH, kỷ luật lao động và các điều kiện làm việc khác).
Để QHLĐ được diễn ra một cách bình thường trên thị trường lao động, Nhà nước quy định các tiêu chuẩn, quy tắc về các nội dung thuộc QHLĐ làm căn cứ cho các bên tự thoả thuận, quyết định, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm trong thoả thuận, thương lượng. - Lao động là yếu tố đầu vào của sản xuất (yếu tố cung) va NLD là người tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần để tồn tại, tái sản xuất sức lao động va phát triển (yếu tố cầu và hàng hoá dịch vụ). Vì vậy, các quyết định của thị trường lao động (thông qua thoả thuận về các QHLD) vừa chi phối đường cầu lao động vừa ảnh hưởng đến đường cầu hàng hoá và đến lượt nó lại tác động trở lại đường cung lao động. Đó là mối quan hệ tương tác giữa cung và cầu lao động trên thị trường lao động ở cả vi mô (cấp đơn vị kinh tế) và cấp vĩ mô (cấp nền kinh tế).
- Thị trường lao động phát triển và hoạt động theo các quy luật khách quan. Tuy nhiên, không thể tuyệt đối hoá sự điều tiết của thị trường lao động bởi “bàn tay vô hình” mà cần phải có sự quản lý điều tiết của Nhà nước đặc biệt là đối với thị trường lao động định hướng xã hội chủ nghĩa nhất là trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, với một thị trường lao động với những nét đặc trưng như trên thì việc bảo vệ quyền và lợi ích của NSDLD có ý nghĩa rất quan trọng. Sự cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong QHLĐ Điều 55 Hiến pháp nước ta quy định: “Lao động là quyển và nghĩa vụ của công dan”.
Nhu vậy, công dân là chủ thể của QHLĐ.