CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NGHĨA VỤ HOÀN TRA DO ĐƯỢC LOI VE TAI SAN KHONG CÓ CAN CU PHÁP LUAT 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chế định nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật 1. Khái niệm chế định nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là một chế định được quy định tại Chương XIX BLDS năm 2015. Mặc dù vậy, trong cả luật thực định cũng như các công trình nghiên cứu pháp lý ở Việt Nam đều không đưa ra khái niệm về nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Một sé tài liệu làm rõ nội hàm khái niệm này bằng cách luận giải như thé nào là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật thông qua việc khái quát hóa hoặc liệt kê một số trường hợp được coi là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Sau đó, các tác giả đưa ra khăng định đây là căn cứ phát sinh nghĩa vụ nói chung và nghĩa vụ hoàn trả nói riêng. Trong đó, nghĩa vụ hoàn trả được phân biệt với trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới góc độ: nghĩa vụ hoàn trả buộc bị đơn từ bỏ khoản lợi bị đơn đã thu được thay vì bồi thường cho nguyên đơn những tổn thất nguyên đơn phải gánh chịu [34, tr. Trong cuốn Việt Nam Dân Luật Lược Khảo, Quyền II: Khế ước và Nghia vu, GS.
Vũ Văn Mẫu thậm chí dành một chương riêng để luận bàn về sự đắc lợi vô nguyên nhân như một nguồn gốc làm phát sinh nghĩa vụ nói chung và nghĩa vụ hoàn trả nói riêng [38, tr. Pháp luật ở các nước theo truyền thống Civil Law như Pháp, Đức cũng có cách tiếp cận tương tự, quy định về “được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” như một nguồn gốc làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả bên cạnh một số trường hợp khác như thực hiện công việc không có ủy quyên, nhận được tài sản do có sự nhầm lẫn trong chuyền giao [57 & 58]. 14 Dưới góc độ pháp luật so sánh, pháp luật các nước theo truyền thống Common Law không có khái niệm cũng như quy định về nghĩa vụ (obligation) và pháp luật về nghĩa vụ (laws of obligation) do đặc thù tại các quốc gia này không nghiên cứu, quy định tổng quát về nghĩa vụ nói chung mà chỉ nghiên cứu, quy định từng nguồn gốc cụ thé của nghĩa vụ và các biện pháp khắc phục (remedy) được áp dụng khi xảy ra tranh chấp liên quan đến từng nguồn gốc đó bao gồm: pháp luật hợp đồng (laws of contract), pháp luật về hành vi trái pháp luật (Jaws of tort), pháp luật về hoàn tra (laws of restitution) [24, tr. Trong pháp luật về hoàn trả, các quốc gia theo truyền thống này không quy định về “được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” như các quốc gia theo truyền thống Civil Law, thay vào đó, họ sử dụng thuật ngữ “được lợi bất chính đáng” (unjust enrichment) và xây dung các học thuyết pháp lý xoay quanh thuật ngữ này.
Điều này xuất phát từ tiến trình lịch sử và quan điểm tiếp cận khác biệt giữa hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law sẽ được phân tích tại Mục 1.! Điểm chung ở hai hệ thống này đều cho rằng, trong trường hợp có một người được hưởng lợi về tài sản làm cho một người khác bị thiệt hại, nếu “không có căn cứ pháp lý” cho việc hưởng lợi đó hoặc việc hưởng lợi đó là “bất chính đáng” tùy thuộc quan điểm pháp lý, khi đáp ứng một số điều kiện nhất định sẽ làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả của người được lợi cho người bị thiệt hại. Cơ sở của điều này được cho là xuất phát từ pháp luật La Mã theo quan điểm của câu châm ngôn "không ai được hưởng lợi từ ton thất của người khác" (no one should be benefited at another's expense) [85] cũng như theo Luật gia Pomponius đã viết trong Pháp điển Digeste (50.20): “theo tự nhiên pháp, lẽ công bằng là không ai có thể đắc lợi làm cho người khác thua thiệt" (Jure naturae aequum est neminem cum alterius detrimento et injuria fieri locupletiorem) [26]. ' Mặc dù chức năng của hai chế định trong hai hệ thống pháp luật là tương đương nhau, nhưng bởi sự khác biệt đề cập ở đây, nên để phản ánh đúng bản chất và cách tiếp cận của các chế định, từ phần sau của luận văn, khi đề cập đến pháp luật các nước theo truyền thông Common Law, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “biện pháp hoàn trả do được lợi bat chính đáng”. Thuật ngữ “nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” sẽ được sử dụng khi phân tích về pháp luật các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó có pháp luật Việt Nam.
15 Như vậy, trong diễn ngôn pháp lý hiện nay, các chế định ở các hệ thống pháp luật khác nhau có chức năng tương tự với chế định nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được sử dụng để xác định hai loại ý tưởng khác nhau [47, tr.33]: - Ý rởng thứ nhất mô tả một tập hợp các trường hợp thực tế trong đó tòa án sẽ yêu cầu người được lợi về tài sản bất chính đáng hoặc không có căn cứ pháp luật hoàn trả lợi ích nhận được cho người bị thiệt hại. Khi đó, chế định này được mô tả dưới hình thức “tập hợp tất cả các sự kiện pháp lý dẫn đến việc một người phải hoàn trả khoản lợi được hưởng bat chính đáng hoặc không có căn cứ pháp luật cho một người khác bị thiệt hại từ sự hưởng lợi của mình”. Với ý tưởng nay, người ta sẽ nghiên cứu và quy định theo cách liệt kê các trường hợp có tính chất như vừa đề cập. Một số các trường hợp thường được liệt kê có thé kế đến như: nhận được khoản tiền từ một người không có nghĩa vụ thanh toán (undue payment), thực hiện hành vi trai pháp luật thu lợi nhưng gây thiệt hai cho người khác, có được khoản lợi từ người khác do người này tin rằng họ đang làm lợi cho chính mình, được thanh toán một khoản nợ thay mà không có căn cứ trong pháp luật dân sự [47, tr.
- Ý twong thứ hai không xác định các trường hợp cụ thể, thay vào đó, ý tưởng này tìm kiếm một nguyên tắc chung dé luận giải lý do Tòa án yêu cầu người được lợi về tài sản bất chính đáng hoặc không có căn cứ pháp luật hoàn trả lợi ích nhận được cho người bị thiệt hại. Theo cách tiếp cận này, “được lợi bất chính đáng” hoặc “được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” được sử dụng như một nguyên tắc chung hoặc lý đo làm cơ sở cho tất cả các trường hợp làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả khi một người được lợi dựa trên sự thiệt hại của người khác như đã đề cập trên đây. Đặc điểm của chế định nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Chế định nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật có những đặc điêm chính như sau: 16 Thứ nhất, nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là quan hệ pháp luật giữa hai chủ thể - một chủ thể được lợi và một chủ thể khác bị thiệt hại và có sự tương ứng giữa khoản lợi và sự thiệt hại đó. Đây là đặc tính cốt lõi nhất của chế định này vì chế định được xây dựng dựa trên nguyên tắc "không ai được hưởng lợi từ ton thất của người khác" (no one may enrich himself unjustly at the expense of another) như một công cụ dé “phục hồi công lý” giữa các bên [62, tr.
Thứ hai, không ton tại quan hệ hop dong giữa hai chủ thé được đề cập trên đây. Nếu không có đặc điểm thứ hai, quan hệ giữa hai bên chủ thé trong chế định này rat dé bị coi như có một hợp đồng tôn tại giữa các bên. Đặc điểm này không gây bối rỗi trong khoa học pháp lý hiện đại. Tuy nhiên, trước thế kỷ XX, người ta vẫn cho rằng, bản chất đằng sau quan hệ pháp luật liên quan đến chế định này là chuẩn hợp đồng và được luận giải bằng lý thuyết về chuẩn hợp đồng.
Hệ quả là, các bên bị buộc phải hành xử như giữa họ thật sự có một hợp đồng trong khi thực tế không tồn tại hợp đồng nào giữa họ. Điều này sẽ được phân tích cụ thé ở Mục 1. Các quy định trong chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam là minh chứng rõ nhất cho tầm anh hưởng của lý thuyết chuẩn hợp đồng lên các quan hệ pháp luật về nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật [38, tr. Thứ ba, tinh chất dự xung.
Một chê định có tính chat dự xung là một chế định chỉ được áp dụng khi không có bat cứ chế định nào khác có thé được sử dụng dé bênh vực quyền lợi của người bị thiệt hại, nhằm dao bảo rằng luôn có một giải pháp pháp lý để cân bằng lợi ích giữa các bên [38, tr. Vũ Văn Mẫu, chế định này sẽ không được áp dụng nếu rơi vào ba trường hợp sau: - Một là, khi quan hệ giữa các bên được điều chỉnh bởi các chế định khác, ké cả khi việc áp dụng nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật có lợi hơn. Vũ Văn Mẫu đưa ra là nếu không có giới hạn này, các chế định khác sẽ trở nên vô ích [38, tr. 17 - Hai là, khi hết thời hiệu, không thể áp dụng các chế định khác.
Vũ Văn Mẫu cho rằng điều này là cần thiết vì nếu không các quy định về thời hiệu sẽ không có giá trị [38, tr. - Ba là, khi không đủ điều kiện để áp dụng các chế định khác. Vũ Văn Mẫu cho răng trường hợp này tương đối “tế nhị”. Nếu không đặt gia giới hạn này, các chế định khác sẽ trở nên vô nghĩa như đã đề cập trên đây.
Nếu đặt gia giới hạn này, đồng nghĩa với việc về lý sẽ “cam han sự hành xử” theo chế định nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, còn về tình sẽ nhận thấy sự bat công.