Tổng quan luận án
Đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam" được tác giả Hoàng Văn Hữu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Trung Tín, bảo vệ năm 2022 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Chuyên ngành: Luật Kinh tế, Mã số: 9 38 01 07).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định chủ trương xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan thích hợp và từng bước xã hội hóa. Sau khi Luật Công chứng năm 2006 và Luật Công chứng năm 2014 được ban hành, mạng lưới công chứng tại Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng về số lượng tổ chức hành nghề và đội ngũ công chứng viên.
| Tiêu chí thống kê |
Trước khi xã hội hóa |
Thời điểm thi hành Luật Công chứng 2006 |
Sau 5 năm thi hành Luật Công chứng 2014 |
Tính đến ngày 30/06/2021 |
| Tổng số tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC) |
131 Phòng Công chứng |
625 TCHNCC |
1.202 TCHNCC (118 Phòng Công chứng, 1.084 Văn phòng công chứng) |
— |
| Tổng số công chứng viên (CCV) |
— |
— |
— |
3.628 CCV (638 CCV thuộc PCC, 2.990 CCV thuộc VPCC) |
| Trình độ công chứng viên |
— |
— |
— |
100% CCV bổ nhiệm theo Luật 2014 có trình độ cử nhân luật trở lên |
Tuy nhiên, quá trình xã hội hóa phát triển nhanh đã làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh, giành giật khách hàng, mở điểm giao dịch trái phép, vi phạm đạo đức nghề nghiệp và công chứng sai vì lợi nhuận. Khi các hợp đồng bị vô hiệu hoặc không thực hiện được (do lỗi không xác định đúng chủ thể, ý chí không tự nguyện, đối tượng vi phạm điều cấm, chứng thực bản sao không có bản chính, chứng nhận bản dịch sai), yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh nhưng việc giải quyết gặp nhiều vướng mắc.
Khoảng trống nghiên cứu thực tế xuất phát từ sự thiếu thống nhất, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật hiện hành gồm: Luật Công chứng năm 2014, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Luật Viên chức năm 2010 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Các cơ quan quản lý nhà nước và Tòa án còn lúng túng trong việc xác định luật áp dụng, căn cứ phát sinh trách nhiệm, mức bồi thường, nguồn tài chính chi trả và cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Do đó, luận án được triển khai nhằm nghiên cứu hệ thống hóa lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện chế định này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; xác định những bất cập, tồn tại trong việc thực hiện và nguyên nhân; từ đó đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng tại Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng, chỉ ra các nội dung còn bỏ ngỏ và xác định vấn đề cần tiếp tục làm rõ.
- Nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận trọng tâm: nhận diện hành vi gây thiệt hại, khái niệm, đặc điểm, phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại; khái niệm, đặc điểm, căn cứ xác định, chủ thể thực hiện, nguyên tắc và phương thức thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng.
- Khái quát và phân tích thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật quốc tế và một số quốc gia; đánh giá thực tiễn thực thi để chỉ rõ những bất cập, hạn chế cùng nguyên nhân.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, học thuyết về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; hệ thống quy định pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; thực tiễn thi hành các quy định này tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào những vấn đề cơ bản và chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật hiện hành trên phương diện lý luận và thực tiễn.
- Về không gian và thời gian: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật tại Việt Nam từ thời điểm Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực (ngày 01/07/2007) cho đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2022).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm nội dung chính:
Nhóm nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự
- Lê Thị Yến (2013), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội: Chỉ ra 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm (hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả, yếu tố lỗi), nghĩa vụ chứng minh thiệt hại, 4 trường hợp miễn trách nhiệm và 2 trường hợp giảm trách nhiệm.
- Phùng Trung Tập (2017), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Sách chuyên khảo: Phân tích 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây ra; nhấn mạnh trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, củng cố lập luận trách nhiệm trong công chứng không thuộc phạm vi luật này.
- Bùi Thị Thanh Hằng (2018), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội: Làm rõ bản chất bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp tổn thất, phân loại thiệt hại trực tiếp/gián tiếp, thiệt hại vật chất/tinh thần và 2 điều kiện xác định mức bồi thường khi không có thỏa thuận trước (thiệt hại phải chắc chắn và dự đoán được).
- Phan Huy Hồng (2018), Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: Phân tích quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 trong mối liên hệ với truyền thống dân luật châu Âu lục địa và nguyên tắc suy đoán lỗi.
- Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb Tư pháp: Phân tích 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường toàn bộ và nghĩa vụ áp dụng biện pháp hợp lý để ngăn chặn, hạn chế tổn thất của bên có quyền.
- Đỗ Văn Đại (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luận án (Tập 1 và Tập 2): Phân tích sự giao thoa và ranh giới giữa trách nhiệm bồi thường trong hợp đồng và ngoài hợp đồng; dẫn chiếu kinh nghiệm lập pháp tại Bỉ, Canada (Québec), Ba Lan, Thụy Sĩ, Pháp.
Nhóm nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng
- Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (2007), Đặc san tuyên truyền pháp luật số 13 chuyên đề về công chứng, chứng thực: Xác định công chứng là hoạt động mang tính chất dịch vụ công do công chứng viên thực hiện đối với các hợp đồng, giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại.
- Thierry Vachon (2011), Trách nhiệm dân sự của công chứng viên ở Pháp và các bảo đảm đối với khách hàng, Bài thuyết trình tại Nhà Pháp luật Việt Pháp: Chỉ ra công chứng viên tại Pháp chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản riêng theo nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 1382) dựa trên 3 căn cứ: lỗi, thiệt hại và quan hệ nhân quả.
- Trương Phong (Văn phòng công chứng She Kou, Thượng Hải), Thảo luận ngắn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong công chứng: Phân tích Điều 43 Luật Công chứng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2006, xác định Văn phòng công chứng là chủ thể bồi thường thiệt hại và áp dụng nguyên tắc giả định lỗi thông qua tiêu chuẩn "người tiêu chuẩn".
- Đỗ Văn Đại (2011), Bồi thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Khẳng định không áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho công chứng viên Phòng công chứng vì không thuộc phạm vi hành vi quản lý hành chính; phân tích các căn cứ phát sinh trách nhiệm theo Luật Công chứng năm 2006 và Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Tuấn Đạo Thanh (2013), Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự trong hoạt động công chứng, Sách chuyên khảo: Khảo sát 4 nhóm công chứng viên (công chức, viên chức, hợp danh, hợp đồng) và sự bất cập trong cơ chế bảo đảm bồi thường thiệt hại của từng loại hình.
- Hoàng Văn Hữu (2014), Trách nhiệm bồi thường do Công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ: Phân tích bất cập giữa trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên, cơ chế bồi thường tại Phòng công chứng và Văn phòng công chứng.
Nhóm nghiên cứu thực trạng và án lệ thực tế
- Khương Hiểu Phụng (2014), Nhận định về sai lầm trong trách nhiệm bồi thường công chứng và suy xét về phạm vi bồi thường, Tạp chí Long Nguyên: Phân tích bản án năm 2010 của Tòa án nhân dân quận Đông Thành (Bắc Kinh) buộc Văn phòng công chứng Phương Viên bồi thường 1.200.000 Nhân dân tệ do người con dùng giấy ủy thác công chứng giả mạo cha mẹ để bán nhà.
- Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh (tổ chức ngày 08/11/2019), Tọa đàm: Giấy tờ giả, trách nhiệm của Công chứng viên: Ý kiến của các chuyên gia thực tiễn (Nguyễn Trí Hòa, Hoàng Mạnh Thắng, Đoàn Quốc Việt, Châu Kim Anh) về yêu cầu chứng minh lỗi của công chứng viên khi gặp giấy tờ và chủ thể giả mạo tinh vi.
- Phan Đình Hải (Thẩm phán TAND TP. Buôn Ma Thuột), Bàn về việc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức hành nghề công chứng trong vụ việc liên quan đến tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu: Phân tích việc xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời trong vụ án tuyên văn bản vô hiệu hay tách thành vụ án dân sự độc lập dựa trên nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thực tế.
- Học viện Tư pháp cơ sở 2 tại TP. Hồ Chí Minh (25/09/2020), Hội thảo: Trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng: Thảo luận quy định bồi hoàn, phòng chống giả mạo và vai trò tham gia tố tụng của công chứng viên.
Nhóm nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện
- Alex Padilla (2016), Cẩm nang công chứng viên (Bang California, Hoa Kỳ): Nêu quy định công chứng viên phải nộp trái phiếu chính thức trị giá 15.000 USD trước khi hành nghề để tạo quỹ thanh toán bồi thường ban đầu.
- Cao Quảng Thế (Đại học Thanh Đảo), Đàm phán về trách nhiệm bồi thường trong công chứng: Kiến nghị thiết lập chế độ song phạt (dân sự và hành chính), hoàn thiện xử lý hình sự và tăng cường vai trò giám sát của hiệp hội công chứng.
- Bộ Tư pháp (04/09/2013), Báo cáo tổng thuật pháp luật về công chứng của hệ thống công chứng Latinh (Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) và Anglo-Saxon: Tổng thuật về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc, cơ chế quỹ bảo đảm đặc biệt tại Đức, quỹ bảo hiểm do Hội đồng công chứng tối cao quản lý tại Tây Ban Nha.
- Berdane Rachid (Chủ tịch Hiệp hội công chứng quốc gia Algérie, Tọa đàm ngày 02/07/2019): Kinh nghiệm chi trả bảo hiểm nghề nghiệp và định hướng thành lập Quỹ bồi thường tập thể dựa trên tỷ lệ doanh thu công chứng.
- Quy định pháp luật Hàn Quốc và Nhật Bản: Điều 18 Đạo luật Công chứng Hàn Quốc năm 2017 quy định công chứng viên phải nộp tiền bảo lãnh trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định bổ nhiệm; Điều 19 Đạo luật Công chứng Nhật Bản năm 1908 quy định công chứng viên phải nộp tiền đặt cọc đảm bảo tính trung thực trong vòng 15 ngày.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ bồi thường thiệt hại dân sự nói chung hoặc chỉ khu biệt ở phạm vi lỗi cá nhân của công chứng viên. Luận án này giải quyết khoảng trống nghiên cứu toàn diện bao gồm: mở rộng chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại sang cả thư ký nghiệp vụ và người phiên dịch của tổ chức hành nghề công chứng; làm rõ bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường (trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng); giải quyết xung đột áp dụng pháp luật giữa Luật Công chứng, Bộ luật Dân sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Luật Viên chức; thiết kế cơ chế bảo đảm tài chính đa tầng (kết hợp bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc và Quỹ bảo đảm tập thể).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về cải cách tư pháp, phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Khung phân tích lý thuyết bao gồm:
- Lý thuyết về dịch vụ công và dịch vụ công chứng;
- Lý thuyết về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại (trách nhiệm trong hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng);
- Lý thuyết về phân bổ rủi ro và bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch dân sự, kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính kết hợp phân tích chuẩn tắc và phân tích thực chứng pháp luật, được triển khai qua các chương:
- Chương 1: Sử dụng phương pháp hệ thống hóa và phân loại để tổng hợp các công trình nghiên cứu, bài viết khoa học trong và ngoài nước, xây dựng cấu trúc luận án.
- Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận liên ngành (luật học, kinh tế học, chính trị học, lịch sử) và luật học so sánh để làm sáng tỏ các khái niệm, đặc điểm, cấu trúc pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong công chứng.
- Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật để đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành từ các số liệu quản lý và bản án thực tế.
- Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa, tổng hợp và phương pháp dự báo để đề xuất hệ thống định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ (Luật Công chứng 2006, Luật Công chứng 2014, Bộ luật Dân sự 2005 và 2015, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 và 2017, Luật Viên chức 2010 sửa đổi 2019, các nghị định hướng dẫn thi hành).
- Số liệu thống kê chính thức từ Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp các địa phương về số lượng tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên và tình hình xử lý vi phạm.
- Các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu và bồi thường thiệt hại.
- Các đạo luật và tài liệu pháp luật quốc tế từ Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Algérie.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế theo từng nhóm vấn đề liên quan trực tiếp đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng. Tác giả đánh giá kết quả đạt được của các công trình đi trước, đồng thời chỉ ra những nội dung chưa được nghiên cứu thấu đáo, gồm:
- Khái niệm hoạt động công chứng trong các nghiên cứu cũ mới chỉ dừng ở mức liệt kê theo Luật Công chứng năm 2006, chưa bao quát thẩm quyền chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký, chứng nhận bản dịch theo Luật Công chứng năm 2014.
- Chưa ghi nhận đầy đủ vai trò và trách nhiệm liên đới của các chủ thể giúp việc như thư ký nghiệp vụ, người phiên dịch trong tổ chức hành nghề công chứng.
- Thiếu sự thống nhất trong việc xác định bản chất trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong công chứng là trách nhiệm trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng khi đối chiếu với các hệ thống pháp luật trên thế giới.
Từ đó, chương 1 xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết chủ đạo để vận dụng cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng
Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:
- Nhận diện hành vi gây thiệt hại trong hoạt động công chứng: Hành vi này có thể biểu hiện dưới dạng hành động (công chứng văn bản vi phạm điều cấm, chứng nhận bản dịch sai, chứng thực bản sao không có bản chính) hoặc không hành động (không giải thích quyền và nghĩa vụ, không kiểm tra kỹ tính xác thực của giấy tờ tùy thân, năng lực hành vi của đương sự).
- Khái niệm và đặc điểm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong công chứng mang tính chất dịch vụ công đặc thù, gắn liền với bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch; chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường trực tiếp trước khách hàng là tổ chức hành nghề công chứng, sau đó công chứng viên có nghĩa vụ bồi hoàn nội bộ.
- Phân loại trách nhiệm: Phân loại dựa trên mối quan hệ hợp đồng (trách nhiệm với người yêu cầu công chứng và trách nhiệm đối với người thứ ba chịu ảnh hưởng) và theo tính chất lỗi.
- Cấu trúc nội dung pháp luật: Bao gồm các quy định về căn cứ xác định trách nhiệm (lỗi, thiệt hại thực tế, quan hệ nhân quả), chủ thể có quyền yêu cầu, chủ thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nguyên tắc bồi thường toàn bộ và phương thức bảo đảm tài chính chi trả.
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng và thực tiễn thực hiện
Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định và số liệu thực thi:
- Thực trạng quy định pháp luật:
- Đánh giá sự thiếu đồng bộ giữa Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 với các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Phân tích ranh giới áp dụng giữa Luật Viên chức năm 2010 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đối với công chứng viên làm việc tại Phòng công chứng; khẳng định hoạt động công chứng không thuộc nhóm hành vi công vụ được Nhà nước bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
- Chỉ ra bất cập trong quy định bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên khi các doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng nhiều điều khoản loại trừ rủi ro, khiến việc bồi thường trên thực tế khó thực hiện.
- Thực tiễn thực hiện và vướng mắc:
- Tình trạng làm giả giấy tờ tùy thân, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản và đóng giả chủ thể diễn biến phức tạp, vượt quá khả năng nhận biết bằng mắt thường của công chứng viên.
- Tòa án khi xét xử các vụ án tuyên văn bản công chứng vô hiệu thường lúng túng trong việc phân định lỗi hỗn hợp giữa đương sự gian dối và công chứng viên thiếu cẩn trọng; chưa có tiêu chí thống nhất về việc giải quyết bồi thường ngay trong cùng vụ án hay tách thành vụ kiện dân sự khác.
Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng
Chương 4 đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp cụ thể:
- Bốn định hướng hoàn thiện:
- Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch và bên thứ ba.
- Thực hiện hiệu quả chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo tinh thần cải cách tư pháp.
- Thúc đẩy sự phát triển minh bạch, an toàn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Hướng đến tính chuyên nghiệp, hiệu quả và hội nhập với hệ thống công chứng các nước thuộc Liên minh Công chứng Quốc tế (UINL).
- Hai nhóm giải pháp trọng tâm:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi Luật Công chứng nhằm quy định rõ tư cách bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng đối với mọi thiệt hại do nhân viên (thư ký, phiên dịch) gây ra; hoàn thiện quy chế bồi hoàn nội bộ của công chứng viên; chuẩn hóa các điều khoản bắt buộc trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; nghiên cứu xây dựng mô hình Quỹ bảo đảm tập thể cấp vùng và cấp trung ương do tổ chức nghề nghiệp công chứng quản lý (học tập kinh nghiệm từ Pháp, Tây Ban Nha, Algérie).
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường liên thông cơ sở dữ liệu công chứng với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đăng ký bất động sản; chuẩn hóa quy trình nhận diện giấy tờ giả; nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức hành nghề; Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn thống nhất về việc xác định yếu tố lỗi và phân định thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan đến văn bản công chứng vô hiệu.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Luận án phân tích toàn diện bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng dưới góc độ dịch vụ công; làm rõ sự giao thoa giữa trách nhiệm trong hợp đồng đối với người yêu cầu công chứng và trách nhiệm ngoài hợp đồng đối với bên thứ ba có quyền lợi liên quan.
- Nhận diện đầy đủ hành vi gây thiệt hại trong hoạt động công chứng hiện đại, mở rộng phạm vi chủ thể gây thiệt hại trực tiếp và gián tiếp gồm công chứng viên, thư ký nghiệp vụ và người phiên dịch của tổ chức hành nghề công chứng.
- Xây dựng cấu trúc nội dung pháp luật hoàn chỉnh về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng, làm cơ sở lý luận cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng.
Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Chỉ ra các điểm mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Công chứng năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và Luật Viên chức năm 2010 trong việc xác định trách nhiệm chi trả bồi thường của Phòng công chứng và Văn phòng công chứng.
- Đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính bảo đảm bồi thường thiệt hại theo mô hình đa tầng: kết hợp giữa bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc và thành lập Quỹ bảo đảm tập thể do Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam và các Hội công chứng viên địa phương vận hành.
- Kiến nghị cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu quản lý thông tin ngăn chặn, thông tin giao dịch bất động sản và cơ sở dữ liệu dân cư để hỗ trợ công chứng viên phòng ngừa rủi ro giấy tờ giả mạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thời gian từ khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực (01/07/2007) đến năm 2022. Nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ pháp luật kinh tế và dân sự đối với trách nhiệm vật chất bồi thường thiệt hại, không đi sâu phân tích toàn diện trách nhiệm hình sự độc lập của công chứng viên hoặc các thủ tục tố tụng tư pháp khác nằm ngoài phạm vi giải quyết bồi thường thiệt hại dân sự.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại phát sinh trong hoạt động công chứng điện tử (e-notary) khi Việt Nam hoàn thiện chuyển đổi số; nghiên cứu sâu về mô hình tổ chức, cơ chế trích lập và quy chế chi trả chi tiết của Quỹ bảo đảm tập thể trong tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học và luận cứ thực tiễn phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến cơ chế bảo hiểm nghề nghiệp, trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng.
- Đối với cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân các cấp): Là tài liệu tham khảo trong việc xác định tư cách đương sự, đánh giá mức độ lỗi và lựa chọn luật áp dụng khi giải quyết các tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan đến văn bản công chứng vô hiệu.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu về nghề công chứng tại Học viện Tư pháp, các trường đại học đào tạo luật và các nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên tại Phòng công chứng có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không?
Không. Theo kết quả phân tích trong luận án và các công trình nghiên cứu được trích dẫn (như tác giả Đỗ Văn Đại, Phùng Trung Tập), hành vi của công chứng viên tại Phòng công chứng không được xem là hành vi thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hay thi hành án theo Điều 1 và Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Trách nhiệm này được giải quyết theo Luật Công chứng và Bộ luật Dân sự nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa công chứng công và công chứng tư.
2. Chủ thể nào chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trực tiếp cho người bị thiệt hại trong hoạt động công chứng?
Tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng) là chủ thể trực tiếp chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng hoặc người thứ ba do lỗi của công chứng viên, thư ký nghiệp vụ hoặc người phiên dịch thuộc tổ chức mình gây ra. Sau khi bồi thường, tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu công chứng viên hoặc nhân viên có lỗi thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn nội bộ theo quy định.
3. Kinh nghiệm quốc tế nào được luận án nghiên cứu để giải quyết vấn đề bồi thường vượt mức bảo hiểm nghề nghiệp?
Luận án nghiên cứu mô hình bảo đảm tập thể của Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Algérie. Cụ thể, bên cạnh bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc, các nước này thiết lập Quỹ bảo đảm cấp vùng và Quỹ bảo đảm Trung ương do tổ chức nghề nghiệp công chứng quản lý, được trích lập từ khoản đóng góp khi nhậm chức (như Pháp thu 1% sản phẩm trung bình) và đóng góp hàng năm (0,25%) để chi trả cho các thiệt hại mà bảo hiểm từ chối hoặc bồi thường vượt mức trần.
4. Pháp luật của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc quy định biện pháp bảo đảm tài chính nào trước khi công chứng viên hành nghề?
- Bang California (Hoa Kỳ) yêu cầu công chứng viên nộp trái phiếu chính thức trị giá 15.000 USD trước khi hành nghề.
- Hàn Quốc quy định tại Điều 18 Đạo luật Công chứng năm 2017: công chứng viên phải nộp tiền bảo lãnh cho Văn phòng công tố cấp huyện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định bổ nhiệm.
- Nhật Bản quy định tại Điều 19 Đạo luật Công chứng năm 1908: công chứng viên phải nộp tiền đặt cọc đảm bảo tính trung thực trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận văn bản bổ nhiệm.
5. Yếu tố lỗi có vai trò như thế nào khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng tại Việt Nam?
Yếu tố lỗi là căn cứ bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường. Theo quy định của Luật Công chứng và thực tiễn xét xử, tổ chức hành nghề công chứng chỉ phải bồi thường khi có lỗi của công chứng viên (thể hiện qua hành động hoặc không hành động, không tuân thủ đầy đủ quy trình kiểm tra, giải thích theo luật). Nếu người yêu cầu công chứng cũng có lỗi trong việc cung cấp thông tin hoặc giả mạo giấy tờ tinh vi vượt ngoài khả năng kiểm tra của công chứng viên, trách nhiệm bồi thường sẽ được xem xét giảm trừ hoặc loại trừ tương ứng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Văn Hữu là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng tại Việt Nam. Bằng việc phân tích toàn diện các quy định của pháp luật thực định và thực tiễn xét xử, công trình đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý, chỉ ra những xung đột, bất cập giữa Luật Công chứng với Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành khác. Các giải pháp do luận án đề xuất, đặc biệt là cơ chế tài chính đa tầng kết hợp giữa bảo hiểm nghề nghiệp bắt buộc và Quỹ bảo đảm tập thể, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, xét xử và quản lý hoạt động công chứng trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.