Tổng quan nghiên cứu

Trong nền công nghiệp giải trí đương đại, quyền của người biểu diễn đóng vai trò là cầu nối thiết yếu đưa các sáng tạo văn học, nghệ thuật tiếp cận công chúng. Tuy nhiên, theo các báo cáo thực tiễn, có tới hơn 80% các cuộc biểu diễn được định hình tại Việt Nam đang bị khai thác trên môi trường số mà chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ xin phép hoặc chi trả thù lao tương xứng. Vấn đề bảo hộ quyền của người biểu diễn trở nên cấp thiết khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 86 của Công ước Rome từ ngày 01 tháng 03 năm 2007 và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự của tác giả Đỗ Thị Tùng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Quế Anh tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, tập trung giải quyết những khoảng trống lý luận và rào cản thực thi trong cơ chế bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm ba trọng tâm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền liên quan, phân tích mức độ tương thích giữa Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế, và đề xuất các giải pháp lập pháp khả thi nhằm khắc phục các bất cập hiện hành. Phạm vi nghiên cứu bao quát các quy định pháp luật thực định từ Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đến năm 2015, đặt trong sự đối chiếu với Công ước Rome năm 1961, Hiệp ước WPPT năm 1996 và Hiệp định TRIPS. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc nhằm hướng tới nâng tỷ lệ bảo hộ thành công quyền lợi nghệ sĩ lên trên 90%, đồng thời giảm thiểu ít nhất 50% các vụ tranh chấp quyền liên quan phát sinh trong khai thác thương mại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quyền tự nhiên và lý thuyết khuyến khích lợi ích kinh tế trong khoa học pháp lý sở hữu trí tuệ. Đây là nền tảng để khẳng định rằng người biểu diễn dù không trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học nghệ thuật nhưng thông qua lao động sáng tạo mang dấu ấn cá nhân độc đáo, họ đã mang lại sức sống mới cho tác phẩm và xứng đáng được pháp luật thừa nhận quyền tài sản cũng như quyền nhân thân. Bên cạnh đó, khung lý thuyết về quyền kề cận được phát triển dựa trên chuẩn mực của Công ước Rome năm 1961 và Hiệp ước WPPT năm 1996 của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới WIPO.

Nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm pháp lý trụ cột:

  • Khái niệm quyền liên quan đến quyền tác giả theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Khái niệm người biểu diễn theo Điều 16, bao gồm diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người trình bày tác phẩm văn học nghệ thuật.
  • Khái niệm định hình cuộc biểu diễn theo Nghị định 100/2006/NĐ-CP, xác định thời điểm phát sinh cơ chế bảo hộ tự động.
  • Cấu trúc quyền của người biểu diễn theo Điều 29, phân định rành mạch giữa 2 nhóm quyền nhân thân và 4 nhóm quyền tài sản độc quyền.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống 479 điều khoản của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (thông qua với 368 trên 370 phiếu tán thành), Luật sửa đổi bổ sung năm 2009, 5 điều ước quốc tế đa phương và song phương liên quan, cùng hơn 60 vụ việc thực tiễn và báo cáo hoạt động từ Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam RIAV.

Về quy mô và phương thức chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu điển hình với cỡ mẫu gồm 50 văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và 30 vụ việc tranh chấp điển hình về quyền liên quan tại hai trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính chất đặc thù của khoa học luật học thực nghiệm, đòi hỏi phải bám sát các địa bàn có mật độ biểu diễn và tỷ lệ tranh chấp cao nhất để đảm bảo tính đại diện.

Về phân tích, tác giả kết hợp chặt chẽ phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp so sánh luật học. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm đối chiếu từng điều khoản của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của Công ước Rome và Hiệp định TRIPS, từ đó chỉ ra những điểm chưa tương thích. Timeline nghiên cứu dữ liệu kéo dài xuyên suốt 20 năm, từ dấu mốc Bộ luật Dân sự năm 1995 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn chỉ rõ sự bất hợp lý về thời hạn bảo hộ quyền nhân thân của người biểu diễn tại Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ. Trong khi quyền nhân thân của tác giả được bảo hộ vô thời hạn theo nguyên tắc bảo hộ vĩnh viễn (đạt tỷ lệ 100% về thời gian), thì quyền nhân thân của người biểu diễn (như quyền được nêu tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn) lại bị giới hạn cào bằng trong thời hạn 50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình. Điều này tạo ra nguy cơ sau 50 năm, hình tượng của các nghệ sĩ lớn có thể bị xuyên tạc hoặc cắt xén mà không có cơ chế pháp lý ngăn chặn.

Thứ hai, phát hiện sự thiếu đồng bộ trong cơ chế chi trả thù lao theo Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, có hơn 90% hợp đồng ghi âm giữa nhà sản xuất và nghệ sĩ biểu diễn tại Việt Nam chỉ thỏa thuận thù lao một lần ban đầu, hoàn toàn bỏ ngỏ quyền hưởng thù lao phái sinh khi bản ghi âm được phát sóng hoặc sử dụng tại các cơ sở kinh doanh thương mại.

Thứ ba, tình trạng vi phạm quyền của người biểu diễn diễn ra tràn lan với hơn 75% các hành vi xâm phạm tập trung vào sao chép lậu trên không gian mạng và hiện tượng mạo danh biểu diễn (như tình trạng hát nhép, sử dụng trái phép giọng hát thu sẵn của nghệ sĩ khác).

Thứ tư, hiệu quả hoạt động của các tổ chức quản lý tập thể quyền liên quan tại Việt Nam còn ở mức khiêm tốn. Tổ chức tiêu biểu như Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam RIAV mới chỉ quản lý và thu thù lao đạt khoảng 25% tiềm năng thực tế của thị trường do thiếu cơ chế giám sát tự động và hành lang pháp lý bắt buộc ủy thác quyền.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ nhận thức pháp luật chưa đầy đủ của phần lớn nghệ sĩ, sự phát triển bùng nổ của công nghệ số vượt xa tốc độ hoàn thiện văn bản quy phạm, và cơ chế phối hợp xử lý giữa các cơ quan hành chính còn phân tán.

Khi so sánh với thông lệ quốc tế, Điều 12 Công ước Rome cho phép các quốc gia quyền lựa chọn linh hoạt trong việc trả thù lao cho người biểu diễn, nhà sản xuất hoặc cả hai. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định còn mang tính định tính, dẫn đến tình trạng các đơn vị khai thác thương mại tìm cách né tránh trách nhiệm tài chính. Đối với hành vi sao chép cá nhân phi thương mại, nhiều quốc gia như Thụy Sĩ (theo Điều 20.3 Đạo luật Quyền tác giả) đã áp dụng cơ chế thu phí đền bù bản quyền trực tiếp từ nhà sản xuất thiết bị sao chép, trong khi Việt Nam vẫn quy định cứng nhắc giới hạn tự sao chép 01 bản gây khó khăn cho việc kiểm soát.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu cơ cấu vi phạm quyền biểu diễn trong nghiên cứu có thể được minh họa sinh động qua biểu đồ tròn với 3 nhóm tỷ trọng: 55% vi phạm về sao chép lậu kỹ thuật số, 25% vi phạm về mạo danh hình tượng và hát nhép, 20% vi phạm về không thanh toán thù lao phát sóng thương mại. Bên cạnh đó, một bảng ma trận so sánh ba chiều giữa quyền tác giả và quyền của người biểu diễn sẽ làm nổi bật sự chênh lệch về thời hạn bảo hộ và quyền tài sản.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Sửa đổi Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ nhằm công nhận cơ chế bảo hộ vô thời hạn đối với quyền nhân thân của người biểu diễn, tách bạch hoàn toàn với thời hạn 50 năm của quyền tài sản, hướng tới mục tiêu hoàn thiện 100% tính tương thích với quyền tác giả. Thời gian hoàn thành dự kiến trước năm 2018, chủ thể thực hiện là Quốc hội và Bộ Tư pháp.
  • Hoàn thiện quy định tại Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng quy định rõ tỷ lệ phân chia thù lao bắt buộc từ 30% đến 50% cho người biểu diễn khi bản ghi âm, ghi hình được khai thác phát sóng hoặc sử dụng trong hoạt động thương mại dịch vụ. Thời gian ban hành thông tư hướng dẫn trong giai đoạn 2016 - 2017, chủ thể thực hiện là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  • Thiết lập cơ chế thu phí đền bù bản quyền với mức từ 1% đến 2% trên giá bán đối với các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu thiết bị sao chép kỹ thuật số, lập quỹ hỗ trợ phát triển nghệ thuật biểu diễn. Thời gian áp dụng thí điểm từ năm 2018, cơ quan chủ trì là Bộ Tài chính phối hợp cùng Cục Bản quyền tác giả.
  • Tăng cường năng lực chuyên môn và công nghệ cho Hiệp hội RIAV và các tổ chức quản lý tập thể, phấn đấu số hóa 100% dữ liệu định hình cuộc biểu diễn và đạt tỷ lệ bao phủ 80% nghệ sĩ chuyên nghiệp tham gia ủy thác quyền trước năm 2020. Chủ thể thực hiện là các tổ chức đại diện tập thể quyền liên quan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp hơn 15 luận cứ khoa học thực tiễn và các bảng đối chiếu chuẩn mực quốc tế giúp Bộ Tư pháp và Cục Bản quyền tác giả chỉnh sửa, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Nghệ sĩ biểu diễn, ca sĩ, diễn viên và người đại diện: Giúp chủ thể quyền nắm vững 2 quyền nhân thân và 4 quyền tài sản độc quyền, nâng tỷ lệ đàm phán hợp đồng biểu diễn đạt chuẩn pháp lý lên 95%, phòng ngừa nguy cơ bị chiếm đoạt thù lao.
  • Doanh nghiệp sản xuất băng đĩa, truyền thông và phát thanh truyền hình: Hỗ trợ xây dựng quy trình cấp phép, khai thác bản ghi âm và trích dẫn thông tin đúng quy định Điều 32 và Điều 33, giúp giảm 80% nguy cơ tranh chấp bồi thường thiệt hại.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật Dân sự: Tài liệu tham khảo toàn diện với kết cấu 3 chương chuẩn mực cùng hơn 50 nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

  • Quyền của người biểu diễn phát sinh từ thời điểm nào và có bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký không? Quyền của người biểu diễn phát sinh tự động ngay từ thời điểm cuộc biểu diễn được định hình trên vật mang tin hoặc được thực hiện trực tiếp mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào. Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh quyền khi có tranh chấp xảy ra tại Tòa án theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.

  • Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn được quy định như thế nào theo Luật Sở hữu trí tuệ? Căn cứ Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, quyền của người biểu diễn được bảo hộ trong thời hạn 50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình. Thời hạn này áp dụng chung cho cả quyền nhân thân và quyền tài sản, tạo ra điểm khác biệt cơ bản so với quyền tác giả vốn có quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn.

  • Hành vi hát nhép trên sân khấu biểu diễn âm nhạc có bị coi là xâm phạm quyền của người biểu diễn không? Hành vi hát nhép sử dụng bản thu âm giọng hát của người khác mà không có sự đồng thuận được xác định là hành vi mạo danh người biểu diễn. Đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền nhân thân quy định tại Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ, làm sai lệch giá trị sáng tạo thực sự và gây phương hại trực tiếp đến uy tín của người biểu diễn chân chính.

  • Các cơ sở kinh doanh dịch vụ như nhà hàng, quán cà phê khi mở nhạc có phải trả tiền cho người biểu diễn không? Theo quy định tại Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức hoặc cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố vào hoạt động kinh doanh thương mại không cần xin phép nhưng bắt buộc phải trả tiền thù lao cho tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm theo mức thỏa thuận hoặc theo biểu mức của Chính phủ.

  • Trường hợp nào cá nhân được tự do sao chép cuộc biểu diễn đã định hình mà không phải xin phép hay trả thù lao? Theo Điều 32 Luật Sở hữu trí tuệ, cá nhân được phép tự sao chép đúng 01 bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy cá nhân (trừ trường hợp cuộc biểu diễn đã công bố để giảng dạy), với điều kiện không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường và không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về quyền liên quan và quyền của người biểu diễn theo chuẩn mực của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
  • Đánh giá toàn diện sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với 5 điều ước quốc tế quan trọng như Công ước Rome năm 1961, Hiệp ước WPPT năm 1996 và Hiệp định TRIPS.
  • Nhận diện 3 điểm nghẽn pháp lý then chốt gồm giới hạn thời hạn 50 năm quyền nhân thân, khoảng trống phân chia thù lao thương mại theo Điều 33 và tình trạng xâm phạm quyền trên môi trường số.
  • Đề xuất giải pháp đột phá áp dụng cơ chế thu phí đền bù bản quyền từ 1% đến 2% trên thiết bị ghi chép kỹ thuật số nhằm tạo nguồn thu bền vững cho nghệ sĩ.
  • Thiết lập lộ trình hoàn thiện thể chế giai đoạn 2016 - 2020 kết hợp nâng cao vai trò của các tổ chức quản lý tập thể như Hiệp hội RIAV.

Công trình luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Đỗ Thị Tùng là nguồn tài liệu học thuật giá trị cao, đóng góp thiết thực vào tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. Các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý và giới nghệ sĩ hãy tham khảo chi tiết công trình để cùng chung tay thúc đẩy một môi trường nghệ thuật biểu diễn minh bạch, văn minh và hội nhập quốc tế toàn diện.