Tổng quan luận án
Đề tài "Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam" được thực hiện với tư cách là một luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.
Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 2007 và tham gia đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA). Trong các định chế và hiệp định này, sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN) đối với nhãn hiệu nói riêng là nội dung trọng tâm. Bên cạnh đó, nhu cầu nội tại của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi hệ thống pháp luật phải đồng bộ, thống nhất, khả thi và minh bạch. Dù Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã tạo lập khung pháp lý cơ bản, thực tiễn áp dụng cho thấy tình trạng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu vẫn gia tăng phức tạp. Hệ thống pháp luật bộc lộ nhiều điểm chưa hoàn thiện: các văn bản luật và hướng dẫn thi hành còn thiếu đồng bộ, quy định về chế tài chưa đủ sức răn đe, thẩm quyền của các cơ quan thực thi bị chồng chéo, sự phối hợp liên ngành chưa hiệu quả và quyền lợi của người tiêu dùng chưa được bảo vệ tương xứng trong các vụ việc xâm phạm quyền.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công trình khoa học trong nước trước đây thường tiếp cận vấn đề xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở phạm vi rộng mang tính khái quát cho toàn bộ các đối tượng sở hữu trí tuệ, hoặc chỉ khảo sát riêng rẽ từng biện pháp dân sự, hành chính, hình sự, kiểm soát biên giới. Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhãn hiệu lại tiếp cận dưới góc độ của ngành Luật Kinh tế hoặc khoa học quản lý, chưa bao quát được các cam kết quốc tế trong các FTA thế hệ mới, chưa cập nhật những sửa đổi lập pháp quan trọng (Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP) và còn bỏ ngỏ việc xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu; phân tích, đánh giá thực trạng mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định Việt Nam; từ đó cung cấp các luận cứ khoa học để xác lập quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung chính:
- Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật và hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trên các phương diện: khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò; xác định tiêu chí hoàn thiện và điều kiện bảo đảm; khảo cứu các cam kết quốc tế và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia để rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Hai là, phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện và có hệ thống thực trạng pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưu điểm, bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó.
- Ba là, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
Các giả thuyết nghiên cứu được tác giả xây dựng để chứng minh trong luận án bao gồm:
- Thứ nhất, pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu sẽ hoàn thiện nếu chứa đựng các quy phạm pháp luật xử lý đúng và hiệu quả đối tượng vi phạm; bảo vệ thỏa đáng quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể quyền; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; bảo đảm cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền, người tiêu dùng, xã hội và bên bị nghi ngờ xâm phạm; bảo đảm trật tự kinh doanh lành mạnh, thu hút đầu tư, phù hợp với trình độ phát triển và tuân thủ cam kết quốc tế. Muốn vậy, cần xác định đúng hành vi xâm phạm và các trường hợp loại trừ, đưa quan hệ pháp luật về nhãn hiệu về đúng bản chất dân sự, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài và nội luật hóa các cam kết quốc tế.
- Thứ hai, để đạt sự hoàn thiện, pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu phải bảo đảm các thuộc tính: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính thống nhất, tính ổn định, tính khả thi, tính minh bạch, thủ tục đơn giản, ít tốn kém và tương thích với pháp luật quốc tế.
- Thứ ba, sự hoàn thiện của pháp luật chỉ đạt được khi đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước thể hiện rõ quan điểm công nhận, bảo hộ tài sản trí tuệ; các cơ quan nhà nước được trang bị đầy đủ nguồn lực; nhận thức tuân thủ pháp luật của xã hội được nâng cao tương xứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được phân định theo ba nhóm:
- Nhóm câu hỏi lý luận: Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là gì, có đặc điểm, nội dung, vai trò như thế nào? Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và điều kiện bảo đảm cho sự hoàn thiện là gì? Các cam kết quốc tế đặt ra yêu cầu gì và Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm gì từ các quốc gia?
- Nhóm câu hỏi thực tiễn: Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu diễn ra như thế nào? Thực trạng các quy định hiện hành có những ưu điểm, bất cập nào và nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế đó là gì?
- Nhóm câu hỏi quan điểm và giải pháp: Cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo nào và thực hiện những nhóm giải pháp lập pháp, tổ chức thi hành nào để hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, bao gồm các vấn đề lý luận, thực tiễn pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia, cùng các quan điểm và giải pháp hoàn thiện.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về phạm vi nội dung và không gian: Luận án nghiên cứu các quy định trong các điều ước quốc tế có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam (Hiệp định TRIPS của WTO, Hiệp định TPP, Hiệp định EVFTA); nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam tập trung vào Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành (các luật chuyên ngành khác như tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, xử lý vi phạm hành chính, hải quan chỉ được xem xét ở các quy định đặc thù liên quan trực tiếp đến nhãn hiệu); nghiên cứu so sánh pháp luật của 5 quốc gia gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan (tập trung vào biện pháp xử lý, căn cứ xác định yếu tố xâm phạm, sự tham gia của các chủ thể và cơ chế xử lý).
- Về phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu tiến trình phát triển pháp luật Việt Nam từ năm 1981 đến năm 2016, trong đó giai đoạn 1981 đến trước năm 2005 được khái quát hóa, trọng tâm phân tích sâu đặt vào giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu được tác giả phân chia thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Nhóm các công trình nghiên cứu về pháp luật và hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung:
- Đề tài khoa học cấp đặc biệt Đại học Quốc gia Hà Nội "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế" do Nguyễn Bá Diến làm chủ nhiệm đã phân tích toàn diện hệ thống pháp luật nội dung và hình thức của Việt Nam trước khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành.
- Sách chuyên khảo "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (2004) do Lê Hồng Hạnh và Đinh Thị Mai Phương đồng chủ biên đã luận giải vị trí của pháp luật SHTT trong hệ thống pháp luật, kiến nghị tách SHTT thành lĩnh vực độc lập khỏi Bộ luật Dân sự và đề xuất 4 nhóm giải pháp thực thi.
- Sách chuyên khảo "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ" (2005) của Lê Xuân Thảo tiếp cận cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với việc xác lập và bảo vệ quyền trong nền kinh tế thị trường.
- "Báo cáo tổng hợp kết quả rà soát Luật Sở hữu trí tuệ và các kiến nghị" (2011) do Dương Tử Giang, Phạm Vũ Khánh Toàn cùng Công ty luật Baker & McKenzie thực hiện trong khuôn khổ Dự án USAID đã đánh giá Luật Sở hữu trí tuệ dựa trên các tiêu chí minh bạch, thống nhất, hợp lý và khả thi.
Nhóm các công trình nghiên cứu về thực thi quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp:
- Đề án khoa học cấp Bộ "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng đề án nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ" do Cục Sở hữu trí tuệ chủ trì.
- Đề án cấp Bộ "Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế" (2014) do Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, nghiên cứu cơ chế thực thi theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
- Sách chuyên khảo "Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế: những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Bá Diến mở rộng nội hàm thực thi quyền bao gồm cả hoạt động xác lập quyền, hỗ trợ thực thi và bảo đảm thực thi.
- Luận văn thạc sĩ "Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp hành chính" của Trần Minh Dũng; Luận án tiến sĩ luật học "Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ" của Lê Việt Long.
- Các bài báo khoa học chuyên ngành: Đinh Thị Mai Phương phân tích trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm trực tiếp và gián tiếp; Nguyễn Thị Hải Vân phân tích các chuẩn mực bảo hộ TRIPS, TRIPS-plus và ACTA; Phạm Vũ Khánh Toàn và Lê An (2013) phân tích thực trạng sử dụng biện pháp hành chính; Đoàn Thị Ngọc Hải nghiên cứu hoạt động kiểm soát biên giới của cơ quan Hải quan dựa trên Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Hải quan.
Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu:
- Đề tài cấp Bộ "Nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng phương pháp xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu" của Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ do Nguyễn Thị Yến chủ nhiệm.
- Đề tài "Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân trong tình hình mới" của Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao do Bùi Thị Dung Huyền chủ nhiệm.
- Các luận văn thạc sĩ: Vũ Thị Phương Giang nghiên cứu biện pháp dân sự; Nguyễn Thị Pha phân tích hành vi xâm phạm theo pháp luật dân sự; Tạ Duy Khánh nghiên cứu tài phán Tòa án; Đỗ Thị Anh khảo sát bảo hộ nhãn hiệu xuất nhập khẩu tại Hải quan; Nguyễn Thị Hương tiếp cận xử lý vi phạm nhãn hiệu trên môi trường Internet.
- Luận án tiến sĩ luật kinh tế "Xử lý vi phạm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam" và bài báo khoa học của Nguyễn Xuân Quang đánh giá thực trạng xử phạt vi phạm hành chính, đề xuất bãi bỏ hình thức cảnh cáo và tăng mức phạt tiền.
- Ấn phẩm "Thông tin khoa học xét xử" số 5/2007 của Tòa án nhân dân tối cao với các bài viết chuyên đề của Thành Vinh, Nguyễn Tùng, Nguyễn Thụy Phương, Chí Hiếu về áp dụng Bộ luật Hình sự đối với các tội danh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; các nghiên cứu của Nguyễn Thị Quế Anh về phân định hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tác động của Hiệp định TRIPS tới Bộ luật Hình sự năm 1999.
Nhóm tài liệu khoa học quốc tế:
- Sách chuyên khảo "Lợi ích kinh tế - xã hội của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển" (Socio-economic benefits of intellectual property protection in developing countries) của Shahid Alikhan (nguyên Phó Tổng Giám đốc WIPO) khẳng định việc xây dựng phương thức thực thi nhanh chóng, ít tốn kém là giải pháp trọng yếu để thúc đẩy kinh tế.
- Sách "Thực thi quyền sở hữu trí tuệ" (Enforcement of Intellectual Property Rights) do Christoph Antons chủ biên, tập hợp các nghiên cứu so sánh về thực thi quyền tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương sau Hiệp định TRIPS.
- Công trình "Các quan điểm quốc tế về thực thi quyền sở hữu trí tuệ" (Intellectual Property Enforcement International Perspectives) của Xuan Li và Carlos M. Correa phân tích xu hướng thiết lập các chuẩn mực TRIPS-plus của các nước phát triển.
- "Tài liệu hướng dẫn thực thi quyền sở hữu trí tuệ" (Guidebook of enforcement of intellectual property) của Michael Blakeney (Viện Queen Mary) hướng dẫn quy trình điều tra, xử lý hành chính và tư pháp.
- Báo cáo nghiên cứu "Xâm phạm gián tiếp nhìn từ góc độ luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" (Indirect infringement from a tort law perspective) của Charles W. Adams (Đại học Tulsa, 2007) phân tích nguyên tắc quy kết trách nhiệm cho hành vi giúp sức, xúi giục trong lĩnh vực nhãn hiệu.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Qua tổng quan tài liệu, tác giả khẳng định các nghiên cứu trước đây chưa giải quyết triệt để vấn đề xử lý xâm phạm nhãn hiệu dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Các đề xuất trước đó chủ yếu mang tính giải pháp tình thế, thiếu cơ sở lý luận về tiêu chí hoàn thiện pháp luật; chưa cập nhật các hiệp định FTA thế hệ mới; chưa giải quyết mối quan hệ giữa bản chất dân sự của quyền sở hữu trí tuệ với việc lạm dụng biện pháp hành chính; chưa làm rõ căn cứ phân định ranh giới giữa chế tài hành chính và chế tài hình sự; đồng thời bỏ ngỏ cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hoạt động giám định sở hữu công nghiệp. Luận án được định vị nhằm giải quyết toàn diện các khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
- Các chủ trương, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X, XI và Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020).
- Khung phân tích lý luận chuyên ngành: Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ là quyền tư hữu; lý thuyết cân bằng lợi ích (giữa chủ sở hữu nhãn hiệu, người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh và trật tự công cộng); lý thuyết trách nhiệm pháp lý ngoài hợp đồng trong việc xử lý hành vi xâm phạm trực tiếp và gián tiếp.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính, sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận chuẩn tắc và phân tích pháp luật thực định. Các phương pháp cụ thể được triển khai theo cấu trúc từng chương:
- Phương pháp lịch sử - cụ thể: Dùng trong Chương 1 và mục 3.1 để tái hiện quá trình hình thành, phát triển của các quy định pháp luật về nhãn hiệu từ năm 1981 đến năm 2016 qua các mốc lịch sử kinh tế.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các khái niệm, quy phạm pháp luật nội dung và thủ tục.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Dùng trong Chương 1 và Chương 2 để khái quát hóa 5 đặc điểm, 8 nhóm nội dung và hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Dùng trong Chương 2 và Chương 3 để đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các cam kết quốc tế (TRIPS, TPP, EVFTA) và pháp luật của 5 quốc gia (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan).
- Phương pháp thống kê và phân tích tài liệu thứ cấp: Dùng trong Chương 3 để minh họa, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua số liệu các vụ việc vi phạm hành chính, các bản án dân sự, hình sự và dữ liệu kiểm soát biên giới.
- Phương pháp suy luận logic: Dùng trong Chương 4 nhằm luận chứng cho 3 quan điểm và 2 nhóm giải pháp hoàn thiện.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009); Bộ luật Dân sự năm 2005 và năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009); Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Hải quan năm 2014; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010; các Nghị định số 103/2006/NĐ-CP, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP.
- Văn kiện quốc tế: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1883); Hiệp định TRIPS (WTO); lời văn các hiệp định TPP, EVFTA.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao, báo cáo hoạt động của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ, Tổng cục Hải quan, Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ; các tài liệu hướng dẫn của WIPO.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Chương này tập trung rà soát có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến pháp luật sở hữu trí tuệ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ và xử lý vi phạm quyền đối với nhãn hiệu.
Nội dung phân tích chia thành hai tiểu mục chính:
- Tiểu mục 1.1 tổng thuật chi tiết các công trình theo 3 nhóm nghiên cứu trong nước (nhóm về pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, nhóm về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nhóm chuyên sâu về xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu) và nhóm công trình quốc tế của các học giả như Shahid Alikhan, Christoph Antons, Xuan Li, Carlos M. Correa, Michael Blakeney, Charles W. Adams.
- Tiểu mục 1.2 đưa ra đánh giá chung, khẳng định các công trình đi trước là nguồn dữ liệu tham khảo giá trị nhưng chưa nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và chuyên sâu pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Nhiều công trình đã hoàn thành trước khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được ký kết hoặc trước khi các đạo luật quan trọng được sửa đổi. Từ đó, chương xác lập 3 giả thuyết nghiên cứu, hệ thống các câu hỏi nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn và giải pháp làm định hướng triển khai cho các chương kế tiếp.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
Chương 2 xây dựng nền tảng lý luận khoa học cho đề tài thông qua ba tiểu mục:
- Tiểu mục 2.1 luận giải khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu:
- Luận án đưa ra khái niệm: Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phát hiện, ngăn chặn và áp dụng các biện pháp chế tài theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với các chủ thể có hành vi vi phạm quyền định đoạt, sử dụng độc quyền nhãn hiệu của chủ thể quyền.
- Xác định 5 đặc điểm cơ bản: (1) Mang tính đa ngành và liên ngành, kết hợp giữa luật nội dung và luật hình thức; (2) Mang bản chất điều chỉnh quan hệ dân sự - tư hữu nhưng có sự can thiệp mạnh mẽ của quyền lực công; (3) Mang tính bảo vệ kép, trực tiếp bảo vệ quyền tài sản của chủ sở hữu nhãn hiệu và gián tiếp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cùng trật tự cạnh tranh lành mạnh; (4) Chế tài áp dụng đa dạng (dân sự, hành chính, hình sự, kiểm soát biên giới); (5) Có mức độ hội nhập quốc tế rất cao.
- Phân loại nội dung điều chỉnh thành 8 nhóm quy phạm pháp luật cụ thể:
| STT |
Tên nhóm quy phạm pháp luật |
Nội dung điều chỉnh cơ bản |
| 1 |
Xác định hành vi xâm phạm và ngoại lệ |
Căn cứ xác định hành vi xâm phạm, phạm vi bảo hộ, đánh giá khả năng tương tự gây nhầm lẫn; quy định các trường hợp ngoại lệ loại trừ trách nhiệm; giải quyết xung đột với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, tên miền. |
| 2 |
Chủ thể có quyền yêu cầu xử lý |
Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu, người được chuyển quyền sử dụng, người tiêu dùng và các tổ chức xã hội phát hiện hành vi xâm phạm. |
| 3 |
Biện pháp xử lý dân sự |
Buộc chấm dứt hành vi, buộc xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại (tổn thất tài sản, thu nhập, giảm sút lợi nhuận, chi phí hợp lý), biện pháp khẩn cấp tạm thời và thủ tục tố tụng dân sự. |
| 4 |
Biện pháp xử lý hành chính |
Xác định hành vi bị xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền, phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và cơ chế phối hợp liên ngành. |
| 5 |
Biện pháp xử lý hình sự |
Yếu tố cấu thành tội phạm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của Bộ luật Hình sự, hệ thống hình phạt đối với cá nhân và pháp nhân thương mại. |
| 6 |
Biện pháp kiểm soát biên giới |
Tạm dừng làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nghi ngờ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tại khu vực cửa khẩu. |
| 7 |
Tổ chức và hoạt động hỗ trợ xử lý |
Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp; trưng cầu và thực hiện giám định sở hữu trí tuệ; giá trị pháp lý của kết luận giám định. |
| 8 |
Bảo vệ người tiêu dùng |
Quyền yêu cầu xử lý xâm phạm, quyền khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng khi mua phải hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. |
- Phân tích 3 vai trò chủ yếu: Thể chế hóa chủ trương của Đảng về tài sản trí tuệ và hội nhập kinh tế; tạo lập cơ sở pháp lý bảo đảm thực thi hiệu lực, hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, người tiêu dùng và duy trì môi trường kinh doanh minh bạch.
- Tiểu mục 2.2 xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật (gồm các tiêu chí chung như tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch và tiêu chí đặc thù như bảo đảm hài hòa lợi ích giữa chủ thể quyền - người tiêu dùng - xã hội, ngăn ngừa lạm dụng quyền) và xác định các điều kiện bảo đảm về chính trị, kinh tế, xã hội, năng lực bộ máy thực thi.
- Tiểu mục 2.3 nghiên cứu các chuẩn mực bảo hộ trong Hiệp định TRIPS, TPP, EVFTA; khảo cứu pháp luật và thực tiễn xử lý xâm phạm nhãn hiệu của 5 quốc gia (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ), từ đó rút ra các giá trị tham khảo về cơ chế xử lý xâm phạm gián tiếp, phân định thẩm quyền cơ quan thực thi và giảm dần sự can thiệp của chế tài hành chính.
Chương 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VIỆT NAM
Chương này đánh giá toàn diện tiến trình lịch sử và thực trạng áp dụng pháp luật:
- Tiểu mục 3.1 phân kỳ lịch sử phát triển pháp luật từ năm 1981 đến năm 2016:
- Giai đoạn 1981 đến trước năm 2005: Bắt đầu từ Điều lệ Nhãn hiệu hàng hóa (ban hành kèm theo Nghị định số 197-CP ngày 14/12/1982), tiếp đó là Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989 và Bộ luật Dân sự năm 1995. Quy định xử lý xâm phạm trong giai đoạn này còn tản mạn, chủ yếu xử lý bằng mệnh lệnh hành chính, cơ chế bảo vệ quyền dân sự chưa phát triển.
- Giai đoạn 2005 đến năm 2016: Được đánh dấu bằng sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cùng hệ thống các nghị định chuyên ngành (Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP). Hệ thống quy định đã có bước phát triển căn bản, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu của Hiệp định TRIPS.
- Tiểu mục 3.2 phân tích thực trạng pháp luật thực định và chỉ ra các hạn chế, vướng mắc:
- Tình trạng "hành chính hóa" quan hệ dân sự: Biện pháp hành chính được áp dụng áp đảo trong thực tế do ưu thế nhanh chóng và chi phí thấp cho chủ thể quyền, trong khi biện pháp dân sự tại Tòa án ít được sử dụng. Điều này làm sai lệch bản chất tư hữu của quyền sở hữu trí tuệ và gây quá tải cho bộ máy hành pháp.
- Bất cập về thẩm quyền và phối hợp liên ngành: Quá nhiều cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường, Công an kinh tế, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp) dẫn đến tình trạng chồng chéo chức năng hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
- Bất cập trong các quy định nội dung: Khái niệm "hàng hóa giả mạo nhãn hiệu" và "hàng hóa xâm phạm quyền" chưa được phân định ranh giới rõ ràng; thiếu quy phạm xử lý hành vi xâm phạm gián tiếp (hành vi cung cấp dịch vụ, phương tiện cho bên xâm phạm); chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm liên đới của các chủ thể kinh doanh dịch vụ trên môi trường Internet.
- Khó khăn trong thực thi tư pháp: Thủ tục khởi kiện tại Tòa án kéo dài, nghĩa vụ chứng minh thiệt hại của nguyên đơn quá phức tạp (chứng minh doanh thu giảm sút, mối quan hệ nhân quả), mức bồi thường thiệt hại thấp chưa bù đắp chi phí theo đuổi vụ kiện; thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đòi hỏi bảo lãnh tài chính cao.
- Hạn chế trong kiểm soát biên giới và giám định: Năng lực của cơ quan Hải quan trong việc chủ động kiểm tra nhãn hiệu còn hạn chế; hoạt động giám định sở hữu công nghiệp chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa có vị thế pháp lý độc lập để khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại tập thể trong các vụ việc hàng giả nhãn hiệu.
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
Chương cuối xác lập định hướng và kiến nghị các giải pháp cụ thể:
- Tiểu mục 4.1 xác định 3 quan điểm chỉ đạo hoàn thiện:
- Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo hộ tài sản trí tuệ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích hợp lý giữa chủ sở hữu quyền đối với nhãn hiệu, người tiêu dùng và toàn xã hội; đưa quan hệ bảo hộ nhãn hiệu về đúng bản chất dân sự.
- Bảo đảm tính tương thích với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là việc thực thi các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (TPP, EVFTA).
- Tiểu mục 4.2 đề xuất 2 nhóm giải pháp hoàn thiện:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản liên quan nhằm làm rõ căn cứ xác định hành vi xâm phạm; bổ sung quy định về hành vi xâm phạm gián tiếp; hoàn thiện cơ chế xác định thiệt hại và tính toán mức bồi thường thiệt hại theo luật định (statutory damages); giới hạn phạm vi áp dụng biện pháp hành chính, chỉ áp dụng đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mạo nhãn hiệu có quy mô lớn hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng; phân định rõ ranh giới áp dụng chế tài hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự; hoàn thiện quy trình kiểm soát biên giới tại Luật Hải quan; quy định rõ quyền khởi kiện và đòi bồi thường của người tiêu dùng và các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện và điều kiện bảo đảm: Thu gọn đầu mối cơ quan hành chính có thẩm quyền xử phạt; nâng cao năng lực chuyên môn của lực lượng thẩm phán giải quyết án sở hữu trí tuệ; hoàn thiện quy chế phối hợp chia sẻ dữ liệu liên ngành giữa Hải quan, Quản lý thị trường và Cục Sở hữu trí tuệ; xã hội hóa và nâng cao năng lực của các tổ chức giám định sở hữu công nghiệp; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án khẳng định sáu đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Một là, trên cơ sở tổng quan toàn diện tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế, luận án làm rõ mức độ nghiên cứu của các công trình đi trước, xác định chính xác các khoảng trống khoa học cần tiếp tục giải quyết về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.
- Hai là, luận án xây dựng khái niệm pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu; phân tích 5 đặc điểm, 8 nhóm nội dung điều chỉnh và 3 vai trò cơ bản của hệ thống quy phạm này, tạo lập khung lý luận nền tảng cho việc hoàn thiện pháp luật thực định.
- Ba là, luận án xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu (kết hợp tiêu chí chung của hệ thống pháp luật với tiêu chí đặc thù về cân bằng lợi ích và chống lạm dụng quyền) cùng các điều kiện bảo đảm thực hiện.
- Bốn là, luận án phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (TPP, EVFTA, TRIPS); đồng thời đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị từ 5 quốc gia (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan) có thể áp dụng vào điều kiện Việt Nam.
- Năm là, luận án hệ thống hóa quá trình phát triển pháp luật từ năm 1981 đến năm 2016, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và phân tích căn nguyên của tình trạng "hành chính hóa" quan hệ dân sự, sự chồng chéo thẩm quyền và những bất cập trong quy định nội dung, thủ tục.
- Sáu là, luận án đề xuất hệ thống gồm 3 quan điểm chỉ đạo và 2 nhóm giải pháp hoàn thiện mang tính đồng bộ, khả thi, góp phần giải quyết các vướng mắc thực tiễn và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Các kiến nghị, giải pháp cụ thể:
- Kiến nghị lập pháp: Sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng thu hẹp phạm vi xử phạt vi phạm hành chính, nâng cao vai trò của tài phán Tòa án; bổ sung quy định về hành vi xâm phạm gián tiếp; thiết lập cơ chế xác định mức bồi thường thiệt hại định trước trong tố tụng dân sự; sửa đổi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để tạo cơ chế cho các vụ kiện tập thể khi nhãn hiệu bị giả mạo gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
- Kiến nghị tổ chức thi hành: Tinh gọn các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính về sở hữu công nghiệp; xây dựng Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ tại các trung tâm kinh tế lớn; tăng cường trang thiết bị kỹ thuật kiểm tra nhãn hiệu tại các cửa khẩu trọng điểm; mở rộng mạng rộng các tổ chức giám định sở hữu trí tuệ độc lập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi thời gian, các phân tích thực trạng và số liệu đánh giá của luận án dừng lại ở mốc năm 2016. Tại thời điểm nghiên cứu, một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như EVFTA và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP tiền thân là TPP) mới chỉ ở giai đoạn ký kết hoặc đàm phán, chưa đi vào giai đoạn thực thi chính thức.
- Về phạm vi nội dung, luận án chỉ tập trung khảo sát đối tượng nhãn hiệu, không bao quát toàn bộ các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay chỉ dẫn địa lý. Các thủ tục giải quyết tại Tòa án và cơ quan Hải quan chỉ được xem xét ở các điều khoản mang tính đặc thù của pháp luật sở hữu trí tuệ mà không đi sâu vào toàn bộ hệ thống tố tụng tư pháp chung.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Đánh giá tác động thực tế của việc thực thi đầy đủ các cam kết sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) đối với hệ thống pháp luật sở hữu công nghiệp Việt Nam sau năm 2016.
- Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế xác định và xử lý các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu phát sinh trong kỷ nguyên số, bao gồm hành vi vi phạm trên các sàn giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới, mạng xã hội và môi trường kỹ thuật số mới.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ): Cung cấp các luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để phục vụ hoạt động rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm nội luật hóa các cam kết quốc tế.
- Đối với cơ quan thực thi pháp luật (Hệ thống Tòa án nhân dân, cơ quan Hải quan, lực lượng Quản lý thị trường, Thanh tra Khoa học và Công nghệ): Cung cấp khung phân tích về căn cứ xác định hành vi xâm phạm, đánh giá yếu tố tương tự gây nhầm lẫn, và cơ chế phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Làm tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật học, đặc biệt là Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự.
- Đối với đội ngũ luật sư, tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp: Cung cấp hiểu biết có hệ thống về các biện pháp bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu, thủ tục khởi kiện dân sự, trưng cầu giám định và các trường hợp ngoại lệ loại trừ trách nhiệm pháp lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu thành những nhóm quy phạm nào?
Luận án chia nội dung điều chỉnh thành 8 nhóm quy phạm pháp luật thống nhất: (1) Nhóm xác định hành vi xâm phạm và các trường hợp ngoại lệ; (2) Nhóm quy định về chủ thể có quyền yêu cầu xử lý; (3) Nhóm quy định biện pháp xử lý dân sự; (4) Nhóm quy định biện pháp xử lý hành chính; (5) Nhóm quy định biện pháp xử lý hình sự; (6) Nhóm quy định biện pháp kiểm soát biên giới của cơ quan Hải quan; (7) Nhóm quy định về tổ chức và hoạt động hỗ trợ (đại diện, giám định sở hữu công nghiệp); (8) Nhóm quy phạm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước hành vi xâm phạm nhãn hiệu.
2. Vì sao luận án nhấn mạnh việc phải hạn chế biện pháp hành chính và trả quan hệ bảo hộ nhãn hiệu về đúng bản chất dân sự?
Bản chất của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng là quyền tư hữu thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật tư. Thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra trước hết là thiệt hại về tài sản và uy tín thương mại của chủ sở hữu nhãn hiệu. Việc lạm dụng biện pháp hành chính dẫn đến hiện tượng "hành chính hóa" quan hệ dân sự, làm quá tải bộ máy nhà nước, khiến chủ thể quyền ỷ lại vào quyền lực công mà lơ là nghĩa vụ tự bảo vệ quyền, đồng thời không phù hợp với thông lệ quốc tế vốn ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng tài phán Tòa án.
3. Luận án xác lập những tiêu chí nào để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về xử lý xâm phạm nhãn hiệu?
Hệ thống tiêu chí gồm hai nhóm: Nhóm tiêu chí chung của hệ thống pháp luật (tính toàn diện, tính đồng bộ, tính thống nhất, tính ổn định, tính khả thi, tính minh bạch, thủ tục đơn giản và ít tốn kém) và Nhóm tiêu chí đặc thù (bảo đảm hài hòa lợi ích hợp pháp giữa chủ sở hữu nhãn hiệu, người tiêu dùng và xã hội; ngăn ngừa việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ để cản trở cạnh tranh lành mạnh; và tính tương thích cao với các cam kết quốc tế trong các FTA thế hệ mới).
4. Vì sao luận án lựa chọn 5 quốc gia gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan để nghiên cứu so sánh?
Các quốc gia này được lựa chọn vì đại diện cho hai nhóm đặc điểm: Một là các quốc gia có hệ thống bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp phát triển ở trình độ cao và có ảnh hưởng lớn đến quan hệ quốc tế (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc); Hai là các quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa pháp lý và bối cảnh chuyển đổi tương đồng với Việt Nam (Trung Quốc, Thái Lan). Việc nghiên cứu tập trung vào căn cứ đánh giá yếu tố xâm phạm, sự tham gia của các chủ thể và cơ chế tổ chức cơ quan thực thi của các nước này mang lại giá trị tham khảo thực tiễn cao cho quá trình lập pháp tại Việt Nam.
5. Đâu là điểm khác biệt cốt lõi giữa luận án này với công trình nghiên cứu tiến sĩ trước đó của tác giả Nguyễn Xuân Quang?
Luận án của Nguyễn Xuân Quang tiếp cận đề tài dưới góc độ ngành Luật Kinh tế, chỉ so sánh với chuẩn mực tối thiểu của Hiệp định TRIPS và chưa cập nhật các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng như các văn bản luật mới ban hành. Luận án này tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về 5 đặc điểm, 8 nhóm nội dung và hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật; đồng thời giải quyết các khoảng trống mà công trình trước bỏ ngỏ như cơ chế bảo vệ người tiêu dùng, hoạt động giám định sở hữu công nghiệp và ranh giới phân định chế tài hành chính - hình sự.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Tác giả đã làm sáng tỏ nền tảng lý luận thông qua việc xác lập khái niệm, 5 đặc điểm, 8 nhóm nội dung và hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật trong lĩnh vực này. Dựa trên phân tích toàn diện tiến trình lịch sử và thực trạng pháp luật thực định giai đoạn 1981 - 2016 cùng các cam kết quốc tế thế hệ mới, luận án đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng "hành chính hóa" quan hệ sở hữu trí tuệ và sự thiếu đồng bộ của hệ thống thực thi. Từ đó, công trình đề xuất 3 quan điểm chỉ đạo và 2 nhóm giải pháp đồng bộ, cung cấp các luận cứ khoa học có giá trị phục vụ cho hoạt động lập pháp, xét xử và nghiên cứu pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.