Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT VÀ KHOA HỌC 1. Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Trong pháp luật quốc tế, quyền tác giả đã đƣợc đề cập cách đây hàng trăm năm. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội mà việc đề cập đến quyền tác giả giữa các nƣớc khác nhau có những khác biệt nhất định.
Ở các nƣớc theo truyền thống pháp luật lục địa khi đề cập đến quyền tác giả (tiếng Pháp: droit d’auteur, tiếng Đức: Urheberrecht) thƣờng nhấn mạnh đến khía cạnh nhân thân của quyền tác giả còn ở các nƣớc thuộc hệ thống luật Anh - Mỹ thì lại nhấn mạnh quyền thƣơng mại trong quyền tác giả (bản quyền - copyright). Ở Việt Nam, quyền tác giả cũng đã đƣợc định nghĩa ở nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý khác nhau đã đƣợc công bố và cả trong các văn bản pháp luật do Nhà nƣớc ban hành. Về cơ bản, các định nghĩa này đều có sự tƣơng đồng nhƣng cũng có những sự khác biệt nhất định. Theo Giáo trình Pháp luật sở hữu trí tuệ của Đại học Huế, do Nhà xuất bản Đại học Huế xuất bản năm 2011 thì “quyề n tác giả ” theo tiếng Anh thực chất là quyền sao chép vì từ “copyright” đƣợc ghép từ “copy” (sao chép) và “right” (quyền); “quyền của tác giả trước hết là quyền tinh thần đối với những tài sản trí tuệ do mình sáng tạo ra, sau đó mới là quyền kinh tế” [40, tr.
Ở đây, bƣớc đầu giáo trình đã chỉ ra quyền tác giả bao gồm quyền tinh thần và quyền kinh tế của tác giả đối với tài sản trí tuệ do mình tạo ra; trong đó, quyền 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tinh thần là cơ bản sau đó với đến quyền về kinh tế. Tuy nhiên, định nghĩa này còn quá giản lƣợc. Theo Tƣ̀ điể n Luâ ̣t ho ̣c của Viê ̣n khoa ho ̣c pháp lý, Bô ̣ Tƣ pháp, do Nhà xuất bản Tƣ pháp xuất bản năm 2005 thì quyền tác giả là: 1. Tổ ng hơ ̣p các quy pha ̣m pháp luâ ̣t điề u chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc cá nhân sáng tạo ra tác phẩm văn học , nghê ̣ thuâ ̣t, khoa ho ̣c, kỹ thuật (theo nghiã khách quan).
Quyề n của tác giả đã trƣ̣c tiế p sáng ta ̣o ra mô ̣t phầ n tác phẩ m hoă ̣c toàn bô ̣ tác phẩ m (theo nghiã chủ quan), bao gồ m quyề n nhân thân và quyề n tài sản gắ n liề n với các quyề n nhân thân đó. Quan hê ̣ dân sƣ̣ bao gồ m chủ thể , khách thể, nô ̣i dung liên quan đế n viê ̣c sáng tạo, sƣ̉ du ̣ng tác phẩ m [36, tr. Tại đây, Từ điển đã đƣa ra ba cách hiể u về quyề n tác giả. Khái niệm quyề n tác giả ta ̣i đây đã có sƣ̣ mở rô ̣ng hơn so với khái niê ̣m trên với viê ̣c bổ sung thêm nô ̣i dung quyề n tác giả (bao gồ m quyề n nhân thân và quyề n tài sản) và nhìn nhận đƣợc quyền tác giả dƣới góc độ lý luận là một quan hệ dân sự chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự với đầy đủ các cấu thành : chủ thể, khách thể, nô ̣i dung liên quan đế n viê ̣c sáng ta ̣o, sƣ̉ du ̣ng tác phẩ m.
Tuy nhiên, khái niệm này cũng chƣa làm rõ đƣợc tác giả có quyền đối với những loại tác phẩ m thuô ̣c nhƣ̃ng liñ h vƣ̣c nào. Bên cạnh đó, giải thích thứ hai của khái niệm “Quyề n của tác giả đã trực tiế p sáng tạo ra một phầ n tác ph ẩm hoặc toàn bộ tác phẩm (theo nghiã chủ quan ), bao gồ m quyề n nhân thân và quyề n tài sản gắ n liề n với các quyề n nhân thân đó ” cũng còn hạn chế đáng kể khi chƣa tính đến các chủ thể khác ngoài tác giả - ngƣời trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. Theo giáo trình Luật sở hữu trí tuệ của Trƣờng Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thì quyền tác giả hiểu theo cách đơn giản là “quyền cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp” [43, tr. Theo tác giả thì khái niệm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này còn khá đơn giản, vô hình chung đã thu hẹp phạm vi bảo hộ của quyền tác giả khi chỉ nêu đƣợc quyền sao chép là một trong số những quyền mà tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đƣợc bảo hộ.
Theo Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2008, thì quyền tác giả đƣợc hiểu theo hai phƣơng diện sau đây: Về phƣơng diện khách quan: Quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm. Về phƣơng diện chủ quan: Quyền tác giả là quyền dân sự cụ thể (quyền tài sản và quyền nhân thân) của chủ thể với tƣ cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm [41, tr. Ngoài ra, theo Giáo trình này thì: Quyền tác giả còn đƣợc hiểu là quan hệ pháp luật dân sự - quan hệ xã hội giữa tác giả, giữa chủ sở hữu quyền tác giả và các chủ thể khác trong xã hội thông qua tác phẩm, dƣới sự tác động của quy phạm pháp luật, quan hệ giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác đƣợc xác định [41].
Có thể thấy rằng, định nghĩa quyền tác giả của Giáo trình này về cơ bản đã bao quát khá đầy đủ các phƣơng diện của quyền tác giả, làm rõ đƣợc các tiêu chí xác định chủ thể có quyền tác giả cũng nhƣ các nhóm quyền cụ thể mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đƣợc bảo hộ. Định nghĩa quyền tác giả 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nêu trên cũng đƣa ra đƣợc cái nhìn tổng thể về mối quan hệ giữa các chủ thể có liên quan đến quyền tác giả. Tuy nhiên, việc đƣa ra nhiều định nghĩa về quyền tác giả nhƣ trên là chƣa thực sự rõ ràng và gây khó khăn cho ngƣời đọc trong việc theo dõi các định nghĩa này. Việc bổ sung thêm nội dung “quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm” vào khái niệm quyền tác giả cũng không thực sự cần thiết và chƣa đầy đủ vì: (i) quyền này là một quyền cơ bản đƣợc bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả nên chủ thể của quyền tác giả đƣơng nhiên có quyền này; (ii) khi quyền tác giả bị xâm phạm thì ngoài việc lựa chọn khởi kiện hay không khởi kiện, chủ thể quyền tác giả có thể lựa chọn biện pháp dân sự hoặc biện pháp hành chính để bảo vệ quyền của mình.
Tƣơng tự Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình pháp luật sở hữu trí tuệ của Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2012 cũng tiếp cận khái niệm quyền tác giả theo hai nghĩa sau: Thứ nhất, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về quyền của ngƣời đã trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đƣợc hƣởng các quyền nhân thân và các quyền tài sản do có kết quả sáng tạo đó và quyền tự ngăn chặn hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ khi có các hành vi xâm phạm đến quyền tác giả. Thứ hai, quyền tác giả hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền dân sự cụ thể của ngƣời với tƣ cách là tác giả của tác phẩm, công trình thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học có quyền chiếm hữu, sử dụng tác phẩm theo ý chí của mình trong phạm vi luật định và quyền khởi kiện dân sự hay không khởi kiện dân sự khi có hành vi xâm phạm quyền tác giả [44, tr. Theo định nghĩa nêu trên thì quyền tác giả mới đƣợc nhìn nhận dƣới 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góc độ là tổng hợp các quy phạm pháp luật về quyền của tác giả - ngƣời trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm (theo nghĩa khách quan) và quyền dân sự cụ thể của tác giả (theo nghĩa chủ quan). Trong khi đó, chủ thể của quyền tác giả không chỉ bao gồm tác giả - ngƣời trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm mà còn bao gồm chủ sở hữu quyền tác giả - ngƣời không trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm nhƣng nắm giữ quyền tác giả theo quy định của pháp luật hoặc đƣợc chuyển giao qua hợp đồng chuyển nhƣợng quyền tác giả hoặc do đƣợc thừa kế.
Nhƣ vậy, định nghĩa “quyền tác giả” của Giáo trình pháp luật sở hữu trí tuệ của Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội đã liệt kê thiếu một chủ thể quan trọng của quyền tác giả là chủ sở hữu tác phẩm. Bên cạnh đó, định nghĩa “quyền tác giả” theo nghĩa chủ quan mới chỉ liệt kê các quyền chiếm hữu, sử dụng tác phẩm của tác giả nhƣng đối với quyền chiếm hữu tác phẩm không đƣợc đặt ra đối với các tài sản sở hữu trí tuệ. Mặt khác, định nghĩa này cũng thiếu sót một quyền quan trọng là quyền định đoạt tác phẩm (cụ thể là quyền chuyển nhƣợng tác phẩm cho ngƣời khác, quyền để lại thừa kế tác phẩm). Việc bổ sung thêm nội dung “quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm” vào khái niệm quyền tác giả (theo nghĩa chủ quan) cũng không thực sự cần thiết và chƣa đầy đủ vì lý do đã phân tích ở trên.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm quyền tác giả trƣớc đây cũng đã đƣợc ghi nhận tại Điều 2 Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả năm 1994 (PLBHQTG) nhƣ sau: “Quyền tác giả là các quyền về tinh thần và vật chất của tác giả” [48].