Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hoàng Hương Thủy thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Lan Chi. Công trình thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, mã số 938 01 01.03.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quyền con người (QCN) trong tư pháp hình sự (TPHS) là lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị tổn thương nhất do tác động trực tiếp đến quyền sống, quyền tự do, danh dự, nhân phẩm và các quyền dân sự cơ bản khi cá nhân ở vị thế yếu thế trước quyền lực cưỡng chế nghiêm khắc của các cơ quan công quyền. Đối với phụ nữ, địa vị pháp lý yếu thế này kết hợp với đặc tính giới tạo ra tình trạng dễ bị tổn thương "kép".

Trên bình diện pháp lý quốc tế, Việt Nam là quốc gia thành viên của nhiều công ước quan trọng, tuy nhiên trong các năm 2015, 2018 và 2019, Việt Nam liên tục nhận được khuyến nghị từ Ủy ban CEDAW, Ủy ban ICCPR và Cơ chế UPR về việc tháo gỡ rào cản nhằm bảo đảm QCN của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp.

Trên bình diện thực tiễn, số liệu Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 cho thấy 62,9% phụ nữ từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần hay kinh tế do chồng/bạn tình gây ra; 11,4% từng bị quấy rối tình dục và 4,4% từng bị xâm hại tình dục. Giai đoạn 2010–2019, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm khoảng 600 nghìn vụ án xâm phạm QCN của phụ nữ với gần 300 nghìn nạn nhân. Trong khi đó, việc bảo vệ quyền của phụ nữ là nạn nhân cũng như bị can, bị cáo, phạm nhân còn nhiều bất cập: thiếu nhạy cảm giới trong điều tra, thiếu vắng điều tra viên nữ, cơ sở vật chất tạm giam không đáp ứng nhu cầu sinh học và chăm sóc thai sản, con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất được tác giả xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, đồng bộ ở cấp độ chuyên khảo/luận án về bảo vệ QCN của phụ nữ trong toàn bộ chu trình TPHS (từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về bảo vệ QCN của phụ nữ trong lĩnh vực TPHS; làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam; từ đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ QCN của phụ nữ. Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bảo vệ QCN của phụ nữ trong TPHS để xác định những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
  2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về QCN của phụ nữ và bảo vệ QCN của phụ nữ trong TPHS (khái niệm, đặc điểm, cơ sở, ý nghĩa, phương thức và đối chiếu chuẩn mực quốc tế).
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi bảo vệ QCN của phụ nữ trong TPHS Việt Nam giai đoạn 2010–2019 ở hai nhóm chủ thể: người phạm tội/bị buộc tội/chấp hành án và nạn nhân tội phạm/người bị hại.
  4. Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng các biện pháp bảo đảm thực thi.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự được hiểu như thế nào? Có khác biệt gì so với quyền con người nói chung trong tư pháp hình sự? Việc bảo vệ quyền con người của phụ nữ được thực hiện như thế nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự của Việt Nam hiện nay?
  2. Quyền con người của phụ nữ trong TPHS được bảo vệ như thế nào trong hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự Việt Nam? So với chuẩn mực quốc tế thì có những khoảng trống pháp luật nào trong việc công nhận, bảo đảm và bảo vệ các QCN của phụ nữ khi là nạn nhân hay chủ thể của tội phạm tham gia trong quá trình giải quyết vụ án hình sự?
  3. Có những bất cập, hạn chế nào trong hệ thống pháp luật tư pháp hình sự và thực tiễn áp dụng trong bảo vệ quyền con người của phụ nữ? Những giải pháp để nâng cao hiệu quả bảo vệ QCN của phụ nữ trong TPHS ở Việt Nam hiện nay?

Tương ứng là 3 giả thuyết nghiên cứu:

  1. Lý luận về bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự tuy đã được đề cập nhưng chưa hình thành khung lý thuyết hoàn chỉnh, cần phải phát triển và hệ thống.
  2. Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự về bảo vệ quyền con người của phụ nữ còn những khoảng trống và bất cập cần được làm rõ.
  3. Công tác bảo vệ QCN của phụ nữ trong TPHS cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật còn nhiều hạn chế nên vẫn còn tình trạng phụ nữ bị hạn chế hoặc xâm phạm một số quyền con người khi tham gia trong quá trình giải quyết vụ án hình sự với tư cách là người bị hại hay người bị buộc tội; tình trạng này có thể được giải quyết bằng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kết hợp giải pháp đồng bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn bảo vệ QCN của phụ nữ trong tư pháp hình sự.
  • Phạm vi chủ thể: Phụ nữ mang giới tính nữ và người chuyển giới nữ từ đủ 18 tuổi trở lên tham gia TPHS với tư cách nạn nhân tội phạm/người bị hại hoặc người phạm tội/người bị buộc tội, người bị kết án, phạm nhân. Luận án không nghiên cứu trẻ em gái, người chưa thành niên, người làm chứng, đương sự khác hoặc cán bộ tư pháp nữ.
  • Phạm vi lĩnh vực: Tập trung vào các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 10 năm (2010–2019).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:

Tình hình nghiên cứu trong nước

  • Nhóm nghiên cứu đa ngành về QCN và quyền phụ nữ: Các giáo trình nền tảng của Võ Khánh Vinh, Khoa Luật - ĐHQGHN, Viện Nghiên cứu Quyền con người - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cùng các công trình của Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Trần Quang Tiệp. Luận án tiến sĩ của Trần Thị Hồng Lê bước đầu tiếp cận khái niệm QCN của phụ nữ gồm quyền đặc thù và quyền dễ bị tổn thương.
  • Nhóm nghiên cứu bảo vệ QCN bằng pháp luật trong TPHS: Sách chuyên khảo của Nguyễn Ngọc Chí về QCN trong TPHS; công trình tập thể của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; chuyên khảo của Lê Lan Chi về nạn nhân tội phạm và nhóm yếu thế; các nghiên cứu chuyên sâu về tố tụng hình sự, thi hành án hình sự của Đỗ Thị Phượng, Nguyễn Đức Phúc, Lê Hữu Trí.
  • Nhóm nghiên cứu về phụ nữ với tư cách chủ thể tội phạm hoặc nạn nhân: Báo cáo liên hợp của UN Women & UNODC (2013) về phụ nữ trong hệ thống TPHS Việt Nam; nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Sơn, Đỗ Đức Hồng Hà, Phạm Hồng Hải, Nguyễn Chí Công; nghiên cứu về QCN của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS của Hoàng Mai Hương và Chu Thị Thúy Hằng.

Tình hình nghiên cứu quốc tế

  • Nhóm nghiên cứu đa ngành: Các công trình của M. Hager, Mary Eastwood, Amy E. Hirsch, Frances Butler; các khảo sát nhận thức xã hội của Peter D. Hart Research Associates (1997), APAP (2001); nghiên cứu về bạo lực gia đình và buôn bán phụ nữ của Pınar İlkkaracan (1996), Nair P. (2002-2003), Catherine Sokum Tang (2001), Hilary Allen (1987).
  • Nhóm nghiên cứu bảo vệ QCN trong TPHS: Sổ tay của Văn phòng Cao ủy LHQ về QCN và Hội Luật gia quốc tế (Human Rights in the Administration of Justice); các nghiên cứu tố tụng của Neil Andrews, K. Lidstone, Stephanos Stavros; các báo cáo về tư pháp Ả Rập Saudi (2017).
  • Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về phụ nữ trong TPHS: Các tài liệu Women in the Criminal Justice System, nghiên cứu tư pháp tại Thụy Điển (Criminal Justice for Assaulted Women in Sweden), sách chuyên khảo Feminist Perspectives on Criminal Law (Đại học Bristol) và công trình của Emma Milne, Karen Brennan, Nigel South, Jackie Turton (Women and the criminal justice system: Failing victims and offenders?).

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây đa phần nghiên cứu QCN nói chung, hoặc nghiên cứu quyền phụ nữ trong luật hình sự đơn lẻ, hay chỉ tiếp cận dưới dạng bài báo khoa học về một giai đoạn tố tụng nhất định. Luận án của Hoàng Hương Thủy là công trình đầu tiên tại Việt Nam xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh và đánh giá thực chứng toàn diện về bảo vệ QCN của phụ nữ trên cả ba nhánh: luật nội dung (hình sự), luật thủ tục (tố tụng hình sự) và luật thi hành án hình sự.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ tư tưởng và phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người và bình đẳng giới.
  • Khung tiếp cận chuyên ngành: Tiếp cận dựa trên quyền con người có đáp ứng giới (Gender responsive and rights-based approach) và phương pháp tiếp cận "lấy quyền con người làm trung tâm". Khung phân tích này đặt trọng tâm vào trách nhiệm của Nhà nước và cơ quan tiến hành tố tụng trong việc nhận diện các đặc thù sinh học, tâm lý, thiên chức làm mẹ để bảo đảm các quyền tự nhiên và quyền đặc thù của phụ nữ.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để đánh giá văn bản pháp luật, tài liệu lý thuyết và số liệu thực tiễn.
  2. Phương pháp cấu trúc hệ thống: Sử dụng trong Chương 2 và 3 để đặt các quy phạm bảo vệ phụ nữ trong chỉnh thể hệ thống pháp luật Việt Nam.
  3. Phương pháp luật học so sánh: Phân tích đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (CEDAW, ICCPR, CAT, Quy tắc Bangkok...).
  4. Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Đánh giá sự phát triển của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự qua các thời kỳ (trước 2015 và hiện hành).
  5. Phương pháp điều tra xã hội học và nghiên cứu vụ việc điển hình:
    • Khảo sát bằng phiếu hỏi đối với 300 cán bộ tư pháp (thẩm phán, thư ký tòa án, kiểm sát viên, luật sư, công an/cảnh sát, cán bộ Bộ Tư pháp).
    • Khảo sát ngẫu nhiên 300 bản án, hồ sơ vụ án hình sự có phụ nữ là bị cáo hoặc người bị hại ở hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
  6. Phương pháp thống kê: Thu thập số liệu chính thức của ngành Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân giai đoạn 2010–2019; xử lý và phân tích dữ liệu điều tra thực nghiệm bằng phần mềm SPSS.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm chủ đề: nghiên cứu đa ngành về quyền con người; nghiên cứu bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tư pháp hình sự; nghiên cứu về quyền con người của phụ nữ với tư cách người bị buộc tội hoặc nạn nhân. Tác giả chỉ ra các kết quả nghiên cứu được kế thừa, xác định rõ các khoảng trống tri thức cần tiếp tục nghiên cứu, đồng thời xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học cho toàn bộ luận án.

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP HÌNH SỰ

Chương 2 tập trung giải quyết các khái niệm và đặc điểm cốt lõi:

  • Khái niệm: Quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là các quyền của phụ nữ phải tham gia tư pháp hình sự với tư cách là người bị buộc tội, người bị kết án hoặc người bị hại trong quá trình giải quyết vấn đề tội phạm và trách nhiệm hình sự. Luận án làm rõ chủ thể bao gồm cả phụ nữ chuyển giới (theo Điều 37 Bộ luật Dân sự 2015) đủ 18 tuổi trở lên.
  • 4 đặc điểm cơ bản:
    1. Là bộ phận không thể tách rời của QCN phổ quát theo Tuyên bố Vienna 1993.
    2. Phát sinh khi phụ nữ đối mặt với các hoạt động mang tính quyền lực cưỡng chế nhà nước của các cơ quan TPHS.
    3. Được ghi nhận và bảo đảm thực thi thông qua pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
    4. Là quyền không nguyên vẹn, bị hạn chế hoặc tước đoạt một phần theo các quyết định, biện pháp tố tụng hoặc hình phạt.
  • Quyền xuất phát từ đặc thù giới: Bao gồm quyền riêng tư thân thể, an toàn tình dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản, bảo hộ thiên chức làm mẹ, các điều kiện sinh hoạt vệ sinh thiết yếu và tiếp cận công lý nhạy cảm giới.
  • Chuẩn mực quốc tế: Phân tích các nguyên tắc từ CEDAW, ICCPR, ICESCR, CAT, Quy tắc Bangkok (Quy tắc của Liên hợp quốc về đối xử với nữ tù nhân và các biện pháp không giam giữ đối với nữ phạm tội).

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chương 3 phân tích hệ thống quy định pháp luật Việt Nam (giai đoạn trước 2015 và theo BLHS 2015, BLTTHS 2015, LTHAHS 2019) cùng thực tiễn áp dụng qua số liệu thống kê 2010–2019 và kết quả điều tra xã hội học:

Số hiệu danh mục Tên bảng / biểu đồ trong luận án Nội dung số liệu / Dữ kiện phân tích
Bảng 3.1 Số vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm có bị hại là nữ (trang 108) Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm toàn quốc (khoảng 600 nghìn vụ, gần 300 nghìn nạn nhân nữ trong 10 năm).
Biểu đồ 3.1 Số vụ, số bị can đã khởi tố giai đoạn 2010–2019 (trang 110) Thực trạng phụ nữ tham gia tố tụng với tư cách bị can bị khởi tố.
Biểu đồ 3.2 Số liệu bị cáo đã xét xử giai đoạn 2010–2019 (trang 111) Diễn biến và tỷ lệ bị cáo nữ bị xét xử tại Tòa án các cấp.
Biểu đồ 3.3 Khảo sát quan điểm về sự cần thiết tôn trọng, đảm bảo quyền của bị can/bị cáo nữ (trang 113) Đánh giá nhận thức của 300 cán bộ tư pháp về quyền của người bị buộc tội là nữ.
Bảng 3.2 Khảo sát quan điểm xử lý các vụ án hình sự có người bị buộc tội là nữ (trang 115) Xu hướng và nhận thức áp dụng chính sách hình sự phân hóa đối với nữ giới.
Biểu đồ 3.4 Quan điểm và thực tiễn triển khai không tạm giam phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi (trang 116) Tỷ lệ và thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với phụ nữ mang thai/nuôi con nhỏ.
Bảng 3.3 Đánh giá thực tiễn bảo vệ quyền của bị can/bị cáo nữ trong tố tụng (trang 117) Mức độ đáp ứng về điều kiện giam giữ, khám xét, hỏi cung và hỗ trợ pháp lý nhạy cảm giới.

Chương này chỉ rõ các bất cập: tỷ lệ bạo lực tình dục trình báo thấp; hơn một nửa số vụ hiếp dâm đình chỉ ở giai đoạn điều tra do rào cản tâm lý và thái độ cán bộ tư pháp; thiếu hướng dẫn thu thập chứng cứ bảo vệ danh dự nạn nhân; phụ nữ có thai/nuôi con nhỏ vẫn bị tạm giam trong điều kiện thiếu thốn; thiếu chế độ chăm sóc y tế sinh sản riêng biệt.

CHƯƠNG 4: CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chương 4 xác định các định hướng và nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp; kết hợp bình đẳng giới thực chất với bảo vệ đặc thù giới.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS, BLTTHS và LTHAHS theo hướng nhạy cảm giới.
    • Quy định cụ thể điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam đối với phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
    • Bổ sung thủ tục tố tụng đặc thù khi lấy lời khai, khám xét thân thể, giám định đối với nạn nhân nữ của tội phạm xâm hại tình dục.
  • Giải pháp hướng dẫn áp dụng và tổng kết thực tiễn: Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành nghị quyết, thông tư liên tịch hướng dẫn thu thập chứng cứ nhạy cảm giới; tăng cường tỷ lệ cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán là nữ.
  • Các giải pháp bảo đảm khác: Nâng cấp cơ sở hạ tầng buồng giam giữ phạm nhân nữ; bảo đảm định mức dinh dưỡng, chăm sóc y tế phụ khoa và điều kiện nuôi dưỡng con nhỏ trong trại giam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần xây dựng và hệ thống hóa khung lý thuyết chuyên biệt về “Bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, làm rõ khái niệm, 4 đặc điểm cốt lõi, cơ sở và phương thức bảo vệ quyền con người dưới lăng kính giới và cách tiếp cận dựa trên quyền có đáp ứng giới.
  2. Xác lập mối quan hệ giữa quyền phổ quát của con người và quyền đặc thù của giới nữ trong bối cảnh chịu sự tác động của quyền lực tư pháp hình sự; xác định phạm vi chủ thể mở rộng đối với người chuyển giới nữ (trên 18 tuổi) theo tinh thần Bộ luật Dân sự 2015.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  1. Đánh giá toàn diện, có hệ thống thực trạng áp dụng pháp luật giai đoạn 2010–2019 dựa trên nguồn dữ liệu đa dạng (thống kê xét xử quốc gia, khảo sát 300 bản án thực tế và điều tra xã hội học 300 cán bộ tư pháp xử lý qua SPSS).
  2. Phát hiện và chỉ rõ những "khoảng trống", bất cập trong BLHS 2015, BLTTHS 2015 và LTHAHS 2019 liên quan đến chế định tạm giam, khám xét, bảo vệ danh dự nạn nhân bạo lực giới và quyền của phạm nhân nữ nuôi con nhỏ.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: hoàn thiện quy phạm pháp luật hình sự - tố tụng - thi hành án; ban hành hướng dẫn áp dụng pháp luật có nhạy cảm giới; cải thiện điều kiện cơ sở vật chất giam giữ và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi chủ thể ở phụ nữ và người chuyển giới nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; không đi sâu nghiên cứu nhóm đối tượng người chưa thành niên, trẻ em gái; không khảo sát sâu quyền của phụ nữ là người làm chứng, đương sự dân sự hoặc phụ nữ là người tiến hành tố tụng. Về mặt thời gian, dữ liệu thực tiễn được giới hạn trong giai đoạn 2010–2019.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền của người chưa thành niên là nữ giới trong tư pháp hình sự người chưa thành niên; nghiên cứu các thiết chế hỗ trợ tư pháp thân thiện và vai trò của cán bộ tư pháp nữ trong việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục.

Giá trị tham khảo

Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học: Cung cấp khung lý thuyết tiếp cận quyền dựa trên giới và hệ thống số liệu thực nghiệm để nghiên cứu chuyên sâu về luật hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và nhân quyền.
  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung BLHS, BLTTHS, Luật Thi hành án hình sự và các luật tư pháp liên quan.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) và cơ sở giam giữ: Cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng quy trình tiếp nhận tố giác, lấy lời khai nạn nhân bạo lực giới và hoàn thiện chế độ giam giữ đối với phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự được luận án định nghĩa như thế nào?

Theo luận án, quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là các quyền của phụ nữ phải tham gia tư pháp hình sự với tư cách là người bị buộc tội, người bị kết án hoặc người bị hại trong quá trình giải quyết vấn đề tội phạm và trách nhiệm hình sự. Chủ thể nghiên cứu bao gồm người mang giới tính nữ và người chuyển giới nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.

2. Số liệu thực trạng về bạo lực và xâm hại phụ nữ được luận án trích dẫn từ nguồn nào?

Luận án sử dụng số liệu từ Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 (62,9% phụ nữ từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực do chồng/bạn tình; 11,4% từng bị quấy rối tình dục; 4,4% bị xâm hại tình dục) và số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân giai đoạn 2010–2019 (xét xử khoảng 600 nghìn vụ với gần 300 nghìn nạn nhân nữ).

3. Phương pháp khảo sát thực nghiệm của luận án được tiến hành với quy mô mẫu ra sao?

Tác giả thực hiện khảo sát điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với 300 cán bộ thuộc hệ thống tư pháp (thẩm phán, thư ký tòa, kiểm sát viên, luật sư, công an/cảnh sát, cán bộ Bộ Tư pháp) và khảo sát ngẫu nhiên 300 bản án, hồ sơ vụ án có phụ nữ là bị cáo hoặc người bị hại ở hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.

4. Bốn đặc điểm cơ bản của quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là gì?

Bao gồm: (1) Là quyền tự nhiên, vốn có của con người, không thể tách rời quyền phổ quát; (2) Phát sinh khi phụ nữ đối mặt với các hoạt động mang tính quyền lực cưỡng chế nhà nước của cơ quan TPHS; (3) Được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; (4) Không phải là quyền đầy đủ, nguyên vẹn mà bị hạn chế hoặc tước đoạt một phần theo các quyết định, biện pháp cưỡng chế tố tụng hoặc hình phạt.

5. Những bất cập chủ yếu trong thực tiễn tố tụng đối với phụ nữ được luận án chỉ ra là gì?

Thực tiễn cho thấy tỷ lệ bạo lực giới không được tố giác còn cao; hơn một nửa số vụ việc hiếp dâm dừng lại ở giai đoạn điều tra do rào cản tâm lý và thái độ cán bộ tư pháp chưa chuẩn mực; thiếu cán bộ điều tra nữ; phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi vẫn bị áp dụng tạm giam kéo dài trong điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, không bảo đảm nhu cầu vệ sinh và sức khỏe sinh sản.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự Việt Nam" của tác giả Hoàng Hương Thủy là công trình nghiên cứu chuyên sâu, đồng bộ về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật. Bằng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người có đáp ứng giới kết hợp dữ liệu điều tra thực nghiệm quy mô 300 cán bộ tư pháp và 300 bản án, tác giả đã làm rõ các chiều kích dễ bị tổn thương của phụ nữ khi tham gia tố tụng hình sự. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự tại Việt Nam.