LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngƣời làm chứng là một chủ thể đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Khái niệm “ngƣời làm chứng” đƣợc biết đến là một trong những chế định cổ xƣa nhất của tố tụng hình sự. Từ lần đầu tiên đƣợc quy định tại Điều 714 Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), từ xƣa đến nay, lời khai của ngƣời làm chứng luôn đƣợc nhìn nhận là nguồn chứng cứ quan trọng để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ngày càng phát triển song song với văn minh nhân loại, tầm quan trọng của ngƣời làm chứng cũng từ đó ngày một đƣợc đề cao. Nhận thấy đây là một chủ thể đóng vai trò không thể thiếu trong việc góp phần làm sáng tỏ sự thật vụ án, nhƣng lại phải đối mặt với nhiều nguy cơ xâm hại từ các đối tƣợng nguy hiểm xuất phát từ chính nghĩa vụ làm chứng của họ, năm 2003, chế định bảo vệ ngƣời làm chứng lần đầu tiên ra đời tại BLTTHS 2003: “Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”. Mặc dù chỉ tồn tại dƣới dạng nguyên tắc, nhƣng có thể nói đây là phát súng đầu tiên báo hiệu nhận thức của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn cho những ngƣời tham gia tố tụng, trong đó có ngƣời làm chứng. Năm 2013, Thông tƣ liên tịch 13/2013/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC- TANDTC1 (TTLT 13/2013/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC) ra đời, hƣớng dẫn chi tiết thi hành nguyên tắc đƣợc quy định lại BLTTHS 2003, tiếp tục tiến thêm một bƣớc trong lịch sử phát triển chế định bảo vệ ngƣời làm chứng.
Đến năm 2015, BLTTHS chính thức quy định hẳn một chƣơng riêng với 07 điều luật dành cho vấn đề này, bảo vệ ngƣời làm chứng không còn là ý chí, nguyên tắc mà trở thành trách nghiệm, nghĩa vụ chung của pháp luật tố tụng hình Việt Nam. Theo đó, bảo vệ ngƣời làm chứng trƣớc hết là bảo vệ toàn vẹn tính khách quan, trung thực, chính xác của lời khai, tạo tâm lý thoải mái, an tâm cho ngƣời tham gia tố tụng. Quan 1 Thông tƣ liên tịch 13/2013/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/12/2013 về hƣớng dẫn thực hiện một số quy định của bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của ngƣời tố giác tội phạm, ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại và ngƣời thân thích của họ trong tố tụng hình sự; 2 trọng hơn hết, đây là một trong những chế định bảo vệ quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự - xu hƣớng hiện đại ngày càng đƣợc ghi nhận và quan tâm bởi pháp luật quôc tế, thể hiện cụ thể trong những văn bản nhƣ Tuyên ngôn về nhan quyền thế giới 1948 (UHDR), Công ƣớc quốc tế các quyền chính trị và dân sự 1966 (ICCPR). Tuy nhiên, mặc dù đóng vai trò to lớn về mặt lý luận lẫn thực tế, quy định về chế định bảo vệ ngƣời làm chứng trong BLTTHS 2015 vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, thiếu sót, chƣa bảo đảm sự an toàn tuyệt đối của đối tƣợng này trong và cả sau khi kết thúc quy trình tố tụng, đáng lƣu ý nhất là áp dụng cho ngƣời làm chứng dƣới 18 tuổi những quy định tƣơng đƣơg ngƣời làm chứng thông thƣờng.
Xét về phạm vi nghiên cứu, mặc dù đã từng có nhiều công trình liên quan đến chủ thể ngƣời làm chứng, nhƣng chƣa hầu nhƣ không có đề tài nào tập trung vào chế định bảo vệ ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự. Đa phần, các tác giả lựa chọn nghiên cứu chuyên sâu về chế định ngƣời làm chứng hoặc nghiên cứu tổng quát về bảo vệ tất cả những ngƣời tham gia tố tụng quy định tại Chƣơng XXXIV BLTTHS 2015, không đủ chuyên sâu để hoàn thiện chế định cho đối tƣợng đặc biệt này. Với định hƣớng xây dựng một xã hội phát triển, một nền lập pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời song song với mục tiêu phát hiện, ngăn ngừa tội phạm, tác giả lựa chọn thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài: “Bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự: Nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho Việt Nam”. Đây cũng chính là mục tiêu lớn nhất mà đề tài hƣớng đến và cũng là lý do cho công trình nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài a. Tình hình nghiên cứu trong nước Sau khi thu thập và tổng hợp những đề tài nghiên cứu có liên quan trong nƣớc, tác giả nhận thấy có những tài liệu tham khảo có liên quan đến các nội dung của đề tài này, cụ thể nhƣ sau: *Phạm vi trong trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Về sách, tạp chí chuyên khảo: - Trần Đức Tuấn (2016), “Tìm hiểu pháp luât nƣớc ngoài về bảo vệ ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát số 05, trang 59 – 62; 3 - Trần Đức Tuấn (2016), “Bảo vệ ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự và góp ý sửa đổi các quy định có liên quan”, Tạp chí Nghề luật, Số 2, tr. 39 - 41; 45; - Nguyễn Văn Lai (2021), “Đặc điểm tâm lý tƣ pháp của ngƣời bị buộc tội, bị hại, ngƣời làm chứng là ngƣời dƣới 18 tuổi”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 1 (346), tr. 24-29; - Nguyễn Thị Ny (2021), “Sự tham gia của ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát số 10/2021, tr.37-43; - Bùi Ai Giôn (2018), “Hoàn thiện chế định ngƣời làm chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 24 (376), tr.53-56; - Võ Thị Kim Oanh, Đinh Văn Đoàn (2015), “Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ ngƣời tố giác tội phạm, ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại”, Khoa học Pháp lý, Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, 2015, Số 08(93), tr.39- 46; - Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Ngọc Minh (2015), “Hoàn thiện các quy định về bảo vệ ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng là ngƣời chƣa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 17 (297), tr. Về luận văn thạc sĩ: - Mang Thị Hồng Trang (2020), Nghĩa vụ của ngƣời làm chứng theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP. HCM; - Nguyễn Thị Thu Hà ((2013), Ngƣời làm chứng tại phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP. HCM; - Hà Ngọc Quỳnh Anh (2013), Ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP.
HCM; - Bùi Hữu Danh (2013), Hoạt động lấy lời khai ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP. HCM; - Ngô Thị Mỹ Linh (2011), Bảo đảm quyền của ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP. HCM; - Cao Thanh Hùng (2007), Hoàn thiện chế định ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tƣ pháp, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP. 4 Về khóa luận tốt nghiệp: - Võ Mai Phƣơng Trang (2018), Hoạt động lấy lời khai ngƣời làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật TP.
HCM; - Nguyễn Hữu Việt (2012), Chế định ngƣời làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật TP. HCM; - Tạ Nhi Còn (2016), Bảo vệ ngƣời tố giác tội phạm, ngƣời làm chứng, bị hại và ngƣời tham gia tố tụng khác trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật TP. *Phạm vi ngoài trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Về sách, tạp chí chuyên khảo: - Hoàng Đình Dũng, Nguyễn Văn Linh (2021), “Hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ ngƣời làm chứng”, Tạp chí Tòa án nhân dân: https://tapchitoaan.vn/bai- viet/phap-luat/hoan-thien-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-lam-chung, truy cập ngày: 08/5/2022; - Phạm Hƣơng (2020), “Bảo vệ ngƣời làm chứng: Cần có quy định nghiêm khắc hơn”, Tạp chí Luật sƣ Việt Nam, https://lsvn.vn/bao-ve-nguoi-lam-chung-can-co- quy-dinh-nghiem-khac-hon.html, ngày truy cập: 08/5/2022;- Nguyễn Hải Ninh (2016), “Bảo vệ ngƣời tố giác tội phạm, ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại, ngƣời tham gia tố tụng khác trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát số 11, tr. Về luận văn thạc sĩ: - Trần Thị Thùy Lƣơng (2011), Bảo vệ quyền con ngƣời của ngƣời làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội; - Lê Viết Kiên (2015), Ngƣời làm chứng trong Tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội; - Đoàn Ngọc Sơn (2019), Bảo vệ ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội; 5 - Nguyễn Hoàng Nhật (2018), Địa vị pháp lý của ngƣời làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sƣ Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội; - Đỗ Thị Kim Oanh (2015), Quyền của ngƣời bị hại và ngƣời làm chứng trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước Thông qua quá trình tìm hiểu, nhóm tác giả nhận thấy có nhiều nguồn tài liệu từ lý luận đến thực tiễn ở phạm vi quốc tế và các quốc gia khác về ngƣời làm chứng nói chung chế định bảo vệ ngƣời làm chứng nói riêng. Cụ thể nhƣ sau: - Nicholas R. Fyfe & Heather McKay (2000), “Police protection of intimidated witnesses: A study of the strathclyde police witness protection programme”, Policing and Society, 10:3, 277-299; - Risdon N. Slate (1997), The federal witness protection program: Its evolution and continuing growing pains, Criminal Justice Ethics; Summer 1997; 16, 2; Academic Research Library, pg.
20; - Stuart Mass (1982), The Dilemma of the Intimidated Witness in Federal Organized Crime Prosecutions: Choosing Among the Fear of Reprisals, the Contempt Powers of the Court, and the Witness Protection Program, Fordham Law Review; - Ricardo Silva, Robin Evans (2016), Causal Inference through a Witness Protection Program, Journal of Machine Learning Research 17, page 1-53; - Sarvinder Kaur, Potential challenges in a witness protection programme in Malaysia, Pertanika J.