Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21 ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng với mức bình quân 20%/năm, đem lại nguồn thu hơn 2 tỷ USD mỗi năm và đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, sự phát triển nóng của ngành kinh tế liên ngành này đã và đang tạo ra những sức ép nặng nề lên hệ sinh thái tự nhiên. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ hoạt động du lịch đã gia tăng nhanh chóng từ 11.388 tấn năm 1995 lên 20.626 tấn năm 2001, đồng thời lượng nước thải sinh hoạt tương ứng tăng từ 1.538 nghìn m3 lên 3.078 nghìn m3. Khoảng 70% các khu, điểm du lịch tập trung tại dải ven biển đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm, xâm nhập mặn và suy thoái cảnh quan nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là sự bất cập giữa yêu cầu phát triển du lịch bền vững và hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật cùng tình hình thực thi, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí, hệ sinh thái) tại các điểm du lịch trọng điểm trên toàn quốc trong giai đoạn 1995 - 2008 và định hướng phát triển đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng đến mục tiêu giảm thiểu trên 30% các tác động tiêu cực của chất thải du lịch, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững cho du lịch Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết cốt lõi: Lý thuyết phát triển bền vững và Lý thuyết điều chỉnh pháp luật môi trường. Lý thuyết phát triển bền vững khẳng định phát triển du lịch phải đảm bảo sự cân bằng giữa ba trụ cột: hiệu quả kinh tế dài hạn, bảo tồn tài nguyên môi trường tự nhiên và duy trì tính toàn vẹn văn hóa - xã hội. Việc khai thác tài nguyên không được vượt quá ngưỡng chịu tải sinh thái và khả năng tự phục hồi của tự nhiên. Lý thuyết điều chỉnh pháp luật môi trường nhấn mạnh vai trò ngăn ngừa, định hướng hành vi của các chủ thể thông qua các quy phạm bắt buộc, xác lập cơ chế trách nhiệm pháp lý và chế tài cưỡng chế của Nhà nước.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm nền tảng được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch 2005. Môi trường du lịch tự nhiên được xác định là tập hợp các yếu tố vật lý và sinh học (đất, nước, không khí, hệ động thực vật, cảnh quan) cấu thành tài nguyên du lịch. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hành vi khai thác, sử dụng, bảo tồn tài nguyên và xử lý chất thải trong quá trình tổ chức, kinh doanh và tham gia hoạt động du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học và xã hội học:

  • Nguồn dữ liệu và thu thập thông tin: Luận văn tổng hợp toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2008, bao gồm Luật Bảo vệ môi trường 2005, Luật Du lịch 2005, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật Thủy sản 2003, cùng Quyết định 02/2003/QĐ-BTNMT. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo chính thức của Tổng cục Du lịch, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO).
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu tiến hành khảo sát, tổng hợp dữ liệu thứ cấp trên quy mô toàn quốc với hơn 120.000 phòng khách sạn và hơn 10.000 phương tiện vận chuyển du lịch được thống kê tính đến năm 2006. Mẫu khảo sát định tính tập trung vào các địa bàn trọng điểm du lịch biển và du lịch sinh thái nhạy cảm như Hạ Long, Cát Bà, Sầm Sơn, Vũng Tàu, Nha Trang và Phú Quốc. Việc lựa chọn mẫu có chủ đích này đảm bảo phản ánh chính xác các điểm nóng về ô nhiễm và xung đột tài nguyên.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp tổng kết thực tiễn. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm đánh giá đồng thời cả tính logic, đồng bộ của văn bản pháp lý lẫn mức độ tương thích, khả thi trong thực tế áp dụng tại các cơ sở kinh doanh và điểm du lịch.
  • Timeline nghiên cứu: Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý dữ liệu và đánh giá thực tiễn được thực hiện từ năm 2006 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng phát thải từ hoạt động du lịch gia tăng nhanh chóng theo cấp số nhân và gây áp lực vượt ngưỡng xử lý của hạ tầng địa phương. Du khách bình quân xả thải 0,67 kg chất thải rắn và 100 lít nước thải/người/ngày. Dự báo đến năm 2010, tổng lượng chất thải rắn du lịch đạt 66.330 tấn (tăng gấp 5,8 lần so với năm 1995) và tổng lượng nước thải sinh hoạt đạt 9.900 nghìn m3 (tăng gấp 6,4 lần so với năm 1995).

Thứ hai, hạ tầng du lịch phát triển tự phát làm suy thoái tài nguyên đất và suy giảm nghiêm trọng diện tích bảo tồn. Điển hình tại di tích Thích Ca Phật Đài (Vũng Tàu), việc xây dựng công trình dịch vụ đã làm suy giảm diện tích khu di tích từ 5 ha xuống còn 2,6 ha (mức giảm lên tới 48%). Tốc độ suy giảm rừng tự nhiên tại các vùng du lịch sinh thái dao động từ 0,7% đến 1,32%/năm, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ mất rừng bình quân toàn cầu là 0,5%/năm. Năm 2002, sự cố cháy rừng đã thiêu rụi 6.000 ha rừng tràm tại Vườn quốc gia U Minh Thượng.

Thứ ba, hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường du lịch tồn tại khoảng trống lớn về tính đồng bộ và chế tài thực thi. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Luật Du lịch 2005 đã ban hành, trách nhiệm môi trường của toàn ngành du lịch trong Luật Bảo vệ môi trường chỉ được quy định khái quát tại Điều 45. Văn bản điều chỉnh chi tiết duy nhất là Quyết định 02/2003/QĐ-BTNMT ban hành Quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch có hiệu lực pháp lý thấp, thiếu các quy định xử phạt vi phạm hành chính cụ thể đối với khách du lịch và doanh nghiệp lữ hành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ tính chất liên ngành, liên vùng phức tạp của ngành du lịch nhưng cơ chế quản lý nhà nước lại bị phân tán sâu sắc. Tài nguyên du lịch hiện chịu sự quản lý của nhiều bộ ngành: rừng đặc dụng do ngành nông nghiệp quản lý, di tích lịch sử do ngành văn hóa quản lý, tài nguyên nước do ngành tài nguyên môi trường quản lý. Sự thiếu vắng một quy chế phối hợp bắt buộc bằng văn bản luật dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và buông lỏng kiểm soát tại cơ sở.

Khi so sánh với xu hướng quốc tế, theo dự báo của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), lượng khách quốc tế toàn cầu đạt 1,56 tỷ lượt vào năm 2020 (tăng trưởng 4,1%/năm), riêng khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đạt tốc độ tăng trưởng 6,5%/năm và chiếm 25,4% thị phần thế giới. Hơn 80% du khách toàn cầu có nhu cầu trải nghiệm thiên nhiên và văn hóa bản địa nguyên vẹn. Nếu Việt Nam không kịp thời hoàn thiện thể chế môi trường, việc suy thoái cảnh quan sẽ làm mất đi lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Dữ liệu phát thải có thể được mô hình hóa qua biểu đồ tương quan đường thẳng giữa số ngày khách lưu trú và tải lượng rác thải (giai đoạn 1995 - 2010), chỉ ra rằng tải lượng ô nhiễm tăng tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng khách. Điều này chứng minh công tác bảo vệ môi trường du lịch không thể dựa vào các biện pháp vận động tuyên truyền đơn thuần mà bắt buộc phải can thiệp bằng chế tài pháp lý cứng rắn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các bất cập thể chế và thúc đẩy du lịch phát triển bền vững, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Nâng cấp và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Ban hành Nghị định của Chính phủ về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch thay thế cho Quyết định 02/2003/QĐ-BTNMT. Chủ thể chủ trì là Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực hiện trong giai đoạn 2010 - 2012. Mục tiêu đạt 100% các cơ sở kinh doanh lưu trú và khu điểm du lịch tuân thủ tiêu chuẩn đánh giá tác động môi trường.
  • Thiết lập cơ chế kiểm soát chất thải và quan trắc môi trường bắt buộc: Quy định trách nhiệm pháp lý bắt buộc đối với Ban quản lý khu du lịch và cơ sở lưu trú trong việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi xả ra tự nhiên. Mục tiêu giảm thiểu 50% lượng chất thải chưa qua xử lý tại 70% khu du lịch ven biển, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo thực hiện định kỳ hàng quý từ năm 2010.
  • Bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính đặc thù: Sửa đổi Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và lĩnh vực du lịch. Cụ thể hóa mức phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi xả rác bừa bãi của du khách, hành vi vận chuyển động thực vật hoang dã của hãng lữ hành và hành vi hủy hoại rạn san hô, cảnh quan. Bộ Tư pháp và Bộ Công an phối hợp các bộ ngành liên quan hoàn thiện khung pháp lý trước năm 2011.
  • Cơ cấu lại nguồn lực tài chính cho bảo vệ môi trường du lịch: Quy định trích tối thiểu 5% đến 10% doanh thu từ phí tham quan tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn và danh lam thắng cảnh để tái đầu tư trực tiếp cho quỹ bảo vệ môi trường địa phương. Ban quản lý khu du lịch và chính quyền địa phương thực hiện công khai ngân sách hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và du lịch: Bao gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch và các Sở ban ngành địa phương. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn sắc bén để soạn thảo, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả.
  • Ban quản lý các khu bảo tồn, vườn quốc gia và điểm du lịch: Hỗ trợ xây dựng nội quy bảo vệ môi trường, xác định sức chứa du lịch và thiết lập quy trình giám sát chất thải phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành và lưu trú: Giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm rõ nghĩa vụ pháp lý, từ đó chủ động xây dựng hệ thống quản lý môi trường đạt chuẩn xanh và đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên ngành Luật học, Du lịch học: Sử dụng như một tài liệu tham khảo chuyên khảo chuyên sâu về chuyên ngành Luật Kinh tế và Luật Môi trường, phục vụ giảng dạy và mở rộng các đề tài nghiên cứu liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tập trung nghiên cứu khía cạnh môi trường nào trong hoạt động du lịch?
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu chuyên sâu vào môi trường tự nhiên, bao gồm các thành phần vật lý và sinh học như đất, nguồn nước, không khí, rừng và hệ sinh thái biển tại các khu, điểm du lịch trên phạm vi cả nước.

Tải lượng chất thải từ một du khách bình quân mỗi ngày là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê và tính toán trong luận văn, lượng chất thải sinh hoạt bình quân của mỗi khách du lịch ước tính khoảng 0,67 kg chất thải rắn và 100 lít chất thải lỏng trong một ngày lưu trú.

Những văn bản pháp luật nền tảng nào được phân tích chính trong công trình?
Luận văn phân tích sâu Luật Bảo vệ môi trường 2005, Luật Du lịch 2005, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 cùng Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ban hành Quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch.

Nguyên nhân chính khiến công tác bảo vệ môi trường du lịch còn nhiều hạn chế là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do tính liên ngành của du lịch nhưng thiếu cơ chế phối hợp pháp lý chặt chẽ giữa các bộ ngành; hệ thống văn bản dưới luật thiếu đồng bộ và các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi xâm hại môi trường du lịch chưa đủ tính răn đe.

Luận văn đề xuất giải pháp tài chính cụ thể nào cho công tác bảo vệ môi trường?
Tác giả đề xuất cơ chế trích từ 5% đến 10% nguồn thu từ vé tham quan và hoạt động dịch vụ tại các khu du lịch, danh thắng để bổ sung nguồn kinh phí ổn định cho công tác thu gom, xử lý rác thải và phục hồi cảnh quan tại địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch gắn với mục tiêu phát triển bền vững.
  • Chỉ rõ thực trạng xung đột gay gắt giữa tốc độ tăng trưởng du lịch 20%/năm và áp lực chất thải rắn dự báo vượt 66.330 tấn vào năm 2010.
  • Phát hiện những lỗ hổng thể chế lớn, đặc biệt là sự thiếu vắng chế tài xử phạt trực tiếp và cơ chế điều phối liên ngành lỏng lẻo.
  • Đề xuất lộ trình xây dựng Nghị định chuyên đề và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường du lịch giai đoạn 2010 - 2015.
  • Đóng góp giải pháp cơ cấu nguồn tài chính trích 5% đến 10% doanh thu du lịch nhằm tạo nguồn lực bền vững cho bảo tồn sinh thái.

Công trình là bước đi tiên phong trong việc nghiên cứu chuyên sâu pháp luật môi trường du lịch dưới góc độ Luật Kinh tế. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần sớm áp dụng các đề xuất lập pháp này để hiện thực hóa mục tiêu phát triển du lịch xanh cho Việt Nam.