Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Trong giai đoạn 2015–2019, ngành du lịch Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 22,7%/năm. Năm 2019, toàn ngành đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, 85 triệu lượt khách nội địa và đóng góp trên 9,2% vào GDP (tăng so với mức 6,3% của năm 2015).
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 bùng phát từ đầu năm 2020 đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành du lịch toàn cầu và Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), ngành du lịch thế giới chịu thiệt hại khoảng 2,4 nghìn tỷ USD trong năm 2021; lượng khách du lịch quốc tế giảm 73% so với năm 2020. Tại Việt Nam, hoạt động du lịch quốc tế tạm dừng từ tháng 4/2020 đến tháng 11/2021; hoạt động du lịch nội địa trải qua 4 lần gián đoạn do các đợt bùng phát dịch.
| Chỉ tiêu thống kê ngành du lịch Việt Nam |
Năm 2015 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
| Tỷ lệ đóng góp trực tiếp vào GDP |
6,3% |
Trên 9,2% |
- |
- |
- |
| Lượng khách du lịch quốc tế |
- |
> 18 triệu lượt |
Tạm dừng từ 04/2020 |
Tạm dừng đến 11/2021 |
3,66 triệu lượt |
| Lượng khách du lịch nội địa |
- |
85 triệu lượt |
Giảm 34% so với 2019 |
40 triệu lượt (giảm 29%) |
- |
| Tổng thu từ khách du lịch |
- |
- |
Giảm 60% so với 2019 |
- |
180.000 tỷ đồng (giảm 42%) |
Để phục hồi và phát triển kinh tế du lịch sau đại dịch, hoạt động xúc tiến du lịch (XTDL) của các thương nhân trở thành công cụ thúc đẩy cơ hội cung ứng dịch vụ và xâm nhập thị trường. Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động này từ ba góc độ: tính chất thương mại, tính cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Mặc dù vậy, hệ thống quy định pháp luật hiện hành bộc lộ nhiều điểm bất cập: chưa theo kịp các phương thức xúc tiến trong thời đại công nghệ số, thiếu quy định điều chỉnh sản phẩm du lịch mới, còn sự chồng chéo giữa Luật Thương mại năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Luật Quảng cáo năm 2012 và Luật Cạnh tranh năm 2018. Thực tế này đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu toàn diện dưới góc độ Luật Kinh tế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về XTDL cũng như pháp luật về XTDL, luận án đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động XTDL của thương nhân kinh doanh du lịch tại Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định và làm rõ những vấn đề lý luận về XTDL và lý luận pháp luật về XTDL đối với thương nhân kinh doanh du lịch.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về XTDL của Việt Nam đối với thương nhân; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về XTDL và cơ chế tổ chức thực hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện pháp luật liên quan đến hoạt động XTDL của thương nhân kinh doanh du lịch, cùng các chính sách pháp luật của Nhà nước thúc đẩy hoạt động này.
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ XTDL dưới góc độ hành vi thương mại chuyên biệt của thương nhân cung ứng dịch vụ du lịch (thông qua khuyến mại, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm dịch vụ, hội chợ và triển lãm du lịch). Luận án không đi sâu vào chức năng quản lý nhà nước thuần túy (cấp phép, thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính) và không mở rộng sang các thương nhân kinh doanh dịch vụ xúc tiến thương mại chuyên nghiệp nói chung.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2023 (giai đoạn ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Thương mại năm 2005 và các chính sách phát triển du lịch mới).
- Phạm vi không gian: Hành vi XTDL của thương nhân diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu liên quan đã công bố
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản được chia thành các nhóm chủ đề chính:
-
Nhóm nghiên cứu về lý luận xúc tiến thương mại, quảng cáo và pháp luật xúc tiến thương mại:
- Nguyễn Thị Dung (2005) phân tích khái niệm quảng cáo trong pháp luật Việt Nam và kiến nghị định danh quảng cáo đương nhiên là quảng cáo thương mại.
- Trịnh Thị Liên Hương (2006) nghiên cứu hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, phân tích các hành vi bị cấm như quảng cáo so sánh, gây nhầm lẫn và trách nhiệm chứng minh.
- Nguyễn Thị Dung (2007) phân tích các bất cập lý luận và thực tiễn của pháp luật xúc tiến thương mại, chỉ ra sự chồng chéo khi có hai văn bản cùng điều chỉnh quảng cáo thương mại.
- Trịnh Xuân Dũng (2009) giới thiệu các nguyên tắc, cách thức tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch từ góc độ quản trị và quy định pháp lý.
-
Nhóm nghiên cứu về xúc tiến du lịch theo hướng marketing và điểm đến địa phương:
- Các luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu trường hợp cụ thể: Lê Thành Công (2010) tại Hải Phòng đối với thị trường Trung Quốc; Cao Như Hoàng (2014) tại Hà Tĩnh; Phan Minh Châu (2013) về xúc tiến du lịch biển đảo Phú Quốc; Võ Minh Tín (2015) tại Ninh Thuận; Bùi Văn Mạnh (2010) tại Ninh Bình; Đào Thị Ngọc Lan (2011) tại Hải Dương; Trần Thị Thủy (2012) tại Nghệ An; Phan Thị Thái Hà (2013) về trung tâm xúc tiến du lịch Hà Nội; Chu Khánh Linh (2013) và Nguyễn Thu Thủy (2006) về du lịch MICE tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Hà Nội; Đinh Thị Trà Nhi (2010) về thương hiệu du lịch Đà Nẵng.
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Huỳnh Thị Hòa (2021) tiếp cận XTDL dưới góc độ liên kết cụm du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam của chính quyền địa phương.
- Các nghiên cứu cấp độ vi mô của doanh nghiệp: Vũ Hoài Nam (2008), Hoàng Lê Minh (2008), Nguyễn Văn Dung (2009), Trần Ngọc Nam và Hoàng Anh (2009) tiếp cận kỹ thuật marketing du lịch.
-
Nhóm nghiên cứu quốc tế về marketing du lịch và điểm đến:
- Mô hình "Kim cương" của Michael Porter khảo sát năng lực cạnh tranh du lịch qua 4 nhóm lực lượng (điều kiện cung, điều kiện cầu, chiến lược/cạnh tranh doanh nghiệp, ngành hỗ trợ).
- Eric Law (1995), Stephen Page (1995), Francois Vellas (1999) tiếp cận quản lý và marketing điểm đến du lịch.
- US. Travel Association (2013) khẳng định hiệu quả kinh tế và việc làm từ chi tiêu cho xúc tiến du lịch.
- Daniel Felsenstein và Aliza Fleischer (2003) nghiên cứu vai trò của lễ hội và sự kiện; Robert Govers, Frank M. Go và Kuldeep Kumar (2007) cảnh báo nguy cơ phóng đại hình ảnh điểm đến.
- Vivek Sharma và Jeet Dogra (2011), Wen Hsiang Lai và Nguyễn Quang Vinh (2013), Mustafa Boz và Duygu Unal (trường hợp Queensland, Úc) chứng minh vai trò của Internet và mạng xã hội đối với độ nhận diện và lòng trung thành điểm đến.
- Simon Hudson (2008) phân tích mô hình Marketing Mix 7P trong du lịch; Victor Middleton và Jackie Clarke (1996), Maricel Gatchalian Human (2017) phân tích kế hoạch xúc tiến và tiếp thị ngành khách sạn.
-
Nhóm nghiên cứu về chính sách và pháp luật du lịch:
- Trịnh Đăng Thanh (2004) nghiên cứu quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch.
- Nguyễn Văn Đảng (2007) nghiên cứu hoạch định chiến lược xúc tiến điểm đến; Nguyễn Anh Tuấn (2010) nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch.
- Các đề án mở rộng thị trường của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2005, 2007 do Đỗ Cẩm Thơ chủ nhiệm) và Tổng cục Du lịch (2012) đối với các thị trường trọng điểm (Hàn Quốc, Nga, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Pháp, Úc); các luận văn của Phạm Mạnh Cường (2007), Ngô Minh Châu (2009), Vi Thị Minh Tâm (2013), Lê Thị Vân Anh (2013).
- Sách chuyên khảo: Nguyễn Hữu Viện và Trịnh Xuân Dũng (2001) về luật kinh doanh du lịch; Nguyễn Văn Lưu (2013) về du lịch Việt Nam trong ASEAN; Phan Huy Xu và Võ Văn Thành (2016) về văn hóa du lịch; Trần Thị Mai Phước (2015) về pháp luật du lịch trong toàn cầu hóa; Martin Oppermann và Kye-Sung Chon (1997), S. Medlik (1991/1995), Nigel Morgan và Annette Pritchard (1999), S. Singh (2014).
Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình đã công bố phần lớn tiếp cận XTDL dưới góc độ kinh tế học, quản trị marketing hoặc quản lý nhà nước vĩ mô. Chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu hệ thống và toàn diện hành vi XTDL của thương nhân dưới góc độ pháp luật thương mại, làm rõ quyền tự do kinh doanh của thương nhân, sự tương thích giữa Luật Thương mại, Luật Du lịch, Luật Cạnh tranh và Luật Quảng cáo, cũng như giải quyết các khoảng trống pháp lý đối với phương thức XTDL trên nền tảng số.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, kết hợp với 4 lý thuyết kinh tế và quản trị:
- Lý thuyết Marketing (Philip Kotler, 1967): Trọng tâm là mô hình 4P (Product, Price, Place, Promotion) và mở rộng thành 7P trong dịch vụ du lịch (bổ sung People, Process, Philosophy/Physical evidence), phân tích tiếp thị như cầu nối giữa nhu cầu xã hội và sản xuất.
- Lý thuyết Tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (John Maynard Keynes, 1935): Dựa trên nguyên lý cầu hữu hiệu, giải thích việc kích cầu dịch vụ du lịch để thúc đẩy phục hồi kinh tế sau khủng hoảng.
- Lý thuyết Khuếch tán đổi mới (Everett Rogers, 1962): Tác phẩm Diffusion of Innovations phân tích quá trình lan tỏa ý tưởng và công nghệ mới qua 4 yếu tố: sự đổi mới, kênh truyền thông, thời gian và hệ thống xã hội.
- Lý thuyết Giá cả hàng hóa (Alfred Marshall): Trình bày trong tác phẩm Principles of Economics, nghiên cứu mức độ hấp dẫn của giá cả đối với hành vi tiêu dùng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, triển khai nghiên cứu liên ngành trên trục chính của ngành Luật Kinh tế:
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu sự hình thành, phát triển và nhu cầu điều chỉnh của pháp luật XTDL qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Luận giải các quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành.
- Phương pháp thống kê và hệ thống hóa: Tập hợp, xử lý dữ liệu thực tế từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam và Hội đồng Tư vấn Du lịch (TAB).
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia để rút ra bài học cho Việt Nam.
- Phương pháp dự báo: Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật phù hợp với xu thế phát triển kinh tế số.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và các vấn đề đặt ra đối với đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến xúc tiến thương mại, xúc tiến du lịch, marketing điểm đến và quản lý nhà nước về du lịch. Tác giả xác định các khoảng trống khoa học: thiếu vắng các nghiên cứu chuyên biệt về hành vi thương mại XTDL của thương nhân; các quy định pháp luật thương mại hiện hành chưa bao quát các phương thức xúc tiến mới trên môi trường mạng. Chương này cũng thiết lập hệ thống câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết nền tảng phục vụ các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý luận về xúc tiến du lịch và lý luận pháp luật về xúc tiến du lịch
Chương 2 làm rõ nội hàm khái niệm và đặc điểm pháp lý của XTDL:
- Khái niệm XTDL: Dưới góc độ kinh tế, XTDL là các biện pháp thúc đẩy bán và mua dịch vụ du lịch. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm này phát triển qua các văn bản:
- Khoản 10 Điều 10 Pháp lệnh Du lịch năm 1999: Hoạt động tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch.
- Khoản 17 Điều 4 Luật Du lịch năm 2005: Bổ sung hành vi tuyên truyền, quảng bá, vận động.
- Khoản 13 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017: Mở rộng gồm nghiên cứu thị trường, tổ chức tuyên truyền, quảng bá, vận động tìm kiếm cơ hội và thu hút khách.
- Dưới góc độ Luật Thương mại năm 2005 (Khoản 10 Điều 3), XTDL là hành vi xúc tiến thương mại chuyên biệt bao gồm: khuyến mại du lịch, quảng cáo du lịch, giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch và hội chợ, triển lãm du lịch.
- Quyền hoạt động XTDL của thương nhân: Theo nghĩa chủ quan là quyền tự do lựa chọn hình thức, cách thức, đối tượng và kinh phí; theo nghĩa khách quan là tổng thể các quy định pháp luật bảo đảm và giới hạn quyền đó.
- Chủ thể thực hiện: Thương nhân theo Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 (đáp ứng 3 điều kiện: thành lập hợp pháp, hoạt động thương mại độc lập thường xuyên, có đăng ký kinh doanh). Bao gồm thương nhân du lịch trực tiếp (lữ hành, lưu trú) và thương nhân phụ trợ (hàng không như Vietnam Airlines, Vietjet Air, vận tải, ngân hàng). Đối với cá nhân kinh doanh độc lập, Nghị định 81/2018/NĐ-CP đã mở rộng quyền XTDL so với Nghị định 37/2006/NĐ-CP trước đây.
- Môi trường tác động: Gồm chính sách quản lý của Nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch - VTDF thành lập theo Quyết định 49/2018/QĐ-TTg), môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Bốn hình thức XTDL chủ yếu: Khuyến mại du lịch; Quảng cáo du lịch; Giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch (ấn phẩm giấy, đĩa CD/DVD, USB); Hội chợ, triển lãm du lịch (kết nối Buyers và Sellers).
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về xúc tiến du lịch của các thương nhân và thực tiễn thực hiện
Chương 3 tập trung đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với 4 nhóm quan hệ:
- Thực trạng pháp luật về khuyến mại du lịch của thương nhân và thực tiễn thực hiện (các hình thức giảm giá tour, tặng quà, chương trình khách hàng thường xuyên, tính minh bạch của dịch vụ khuyến mại).
- Thực trạng pháp luật về quảng cáo du lịch của thương nhân và thực tiễn thực hiện (quảng cáo trên truyền thông, bảng biển, Internet, vấn đề kiểm soát thông tin một chiều, trung thực).
- Thực trạng pháp luật về giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch, hội chợ và triển lãm du lịch của thương nhân.
- Thực trạng pháp luật bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong XTDL (xử lý hành vi phá giá, quảng cáo so sánh ngầm, thông tin sai lệch gây tổn hại cho du khách).
Chương này chỉ rõ những vướng mắc: sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật thương mại và pháp luật du lịch, khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ du lịch trực tuyến và thiếu chế tài xử lý các vi phạm mới phát sinh.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật xúc tiến du lịch tại Việt Nam
Chương 4 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Phương hướng hoàn thiện: Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của thương nhân; nâng cao tính thống nhất, đồng bộ giữa Luật Thương mại, Luật Du lịch, Luật Quảng cáo và Luật Cạnh tranh; tương thích với các cam kết quốc tế.
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể về khuyến mại, quảng cáo, hội chợ triển lãm du lịch trong Luật Thương mại và Luật Du lịch.
- Bổ sung khung pháp lý điều chỉnh hoạt động XTDL trên nền tảng kỹ thuật số và mạng xã hội.
- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh trong XTDL.
- Giải pháp tổ chức thực hiện: Tăng cường phối hợp quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch (VTDF), xây dựng cơ chế giám sát thực thi pháp luật của các thương nhân.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Về mặt lý luận:
- Xây dựng có hệ thống khái niệm pháp lý về "Xúc tiến du lịch" và "Pháp luật về xúc tiến du lịch" dưới góc độ hành vi thương mại chuyên biệt.
- Xác định rõ cấu trúc quyền tự do XTDL của thương nhân (quyền chủ quan) trong mối quan hệ biện chứng với hệ thống quy phạm pháp luật (quyền khách quan), trật tự cạnh tranh lành mạnh và quyền lợi người tiêu dùng.
- Phân định ranh giới và mối liên hệ giữa XTDL của Nhà nước (chức năng quản lý, chính sách vĩ mô) và XTDL của thương nhân (hành vi tìm kiếm lợi nhuận vi mô).
-
Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành pháp luật XTDL của thương nhân giai đoạn 2013–2023, chỉ rõ những điểm nghẽn pháp lý và các hành vi vi phạm thực tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Thương mại, Luật Du lịch, các văn bản dưới luật) nhằm thể chế hóa các hình thức XTDL mới, phục vụ quá trình phục hồi ngành du lịch sau đại dịch COVID-19.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ tập trung vào hành vi XTDL của thương nhân tại thị trường nội địa Việt Nam, không nghiên cứu sâu hoạt động XTDL của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài (chịu sự điều chỉnh của luật nước sở tại). Luận án cũng không đi sâu vào các khía cạnh quản lý nhà nước như thủ tục cấp phép, hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm hành chính.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu khung pháp luật điều chỉnh hoạt động XTDL của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế và cơ chế pháp lý quản trị rủi ro đối với các mô hình kinh doanh du lịch số xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Cơ quan xây dựng chính sách và quản lý nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, các cơ quan quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng trong việc rà soát, sửa đổi quy định về xúc tiến thương mại chuyên ngành.
- Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại và Quản trị Du lịch trong việc giảng dạy các học phần pháp luật kinh doanh du lịch.
- Cộng đồng thương nhân: Các doanh nghiệp lữ hành, lưu trú và doanh nghiệp dịch vụ phụ trợ nhằm nhận diện ranh giới pháp lý, phòng ngừa rủi ro cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ quyền lợi khách hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt XTDL và XTTM nói chung dựa trên những tiêu chí nào?
Luận án phân biệt dựa trên 3 tiêu chí:
- Chủ thể: XTTM do thương nhân nói chung thực hiện, vai trò Nhà nước mang tính hỗ trợ gián tiếp. XTDL có sự tham gia chủ đạo của Nhà nước trong định hướng, quảng bá hình ảnh quốc gia cùng với sự chủ động của thương nhân du lịch.
- Mục đích: XTTM nhằm tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. XTDL vừa phục vụ mục đích thương mại của thương nhân, vừa hướng tới mục tiêu quảng bá hình ảnh thiên nhiên, văn hóa, con người của vùng miền và quốc gia, tạo sức lan tỏa kinh tế - xã hội.
- Cách thức: XTDL kết hợp 4 hình thức xúc tiến thương mại truyền thống với các hoạt động nghiên cứu thị trường, vận động, tuyên truyền chuyên ngành theo quy định của Luật Du lịch.
2. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động XTDL của thương nhân tại Việt Nam gồm những văn bản chủ yếu nào?
Hoạt động XTDL của thương nhân chịu sự điều chỉnh của: Luật Thương mại năm 2005 (các quy định chung về xúc tiến thương mại), Luật Du lịch năm 2017 (các quy định chuyên ngành du lịch), Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Cạnh tranh năm 2018 và Nghị định 81/2018/NĐ-CP (thay thế Nghị định 37/2006/NĐ-CP).
3. Vị trí và vai trò của Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch (VTDF) được văn bản nêu như thế nào?
Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch (VTDF) được thành lập theo Quyết định số 49/2018/QĐ-TTg ngày 12/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động theo mô hình công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là đại diện chủ sở hữu. Quỹ có nhiệm vụ bố trí kinh phí tổ chức triển khai hoạt động XTDL và hỗ trợ phát triển du lịch theo chiến lược quốc gia.
4. Bốn hình thức XTDL cụ thể được tác giả phân tích là gì?
Bốn hình thức gồm:
- Khuyến mại du lịch: Dành lợi ích vật chất/phi vật chất cho khách hàng để thúc đẩy việc mua và sử dụng tour, dịch vụ.
- Quảng cáo du lịch: Truyền tải thông tin một chiều về sản phẩm, dịch vụ qua các phương tiện truyền thông nhằm kích thích nhu cầu.
- Giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch: Sử dụng ấn phẩm in ấn (tờ rơi, tập gấp, sách hướng dẫn) và vật phẩm điện tử (CD-ROM, DVD, USB) để cung cấp thông tin chi tiết.
- Hội chợ, triển lãm du lịch: Không gian tập trung định kỳ hoặc sự kiện để thương nhân trưng bày, gặp gỡ, giao kết hợp đồng giữa người mua (Buyers) và người bán (Sellers).
Kết luận
Luận án "Xúc tiến du lịch theo pháp luật Việt Nam hiện nay" là công trình nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế, tiếp cận toàn diện hoạt động XTDL dưới góc độ hành vi thương mại của thương nhân. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, phân tích sự giao thoa và bất cập giữa Luật Thương mại năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 cùng các luật chuyên ngành liên quan trong giai đoạn 2013–2023. Các giải pháp được đề xuất hướng tới việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho thương nhân phục hồi và phát triển kinh doanh du lịch trong bối cảnh công nghệ số.