Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn huyện. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Mộc Châu. Chương 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Mộc Châu.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn cấp huyện 1.Một số khái niệm liên quan đến hoạt động du lịch và quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn huyện 1. Khái niệm về du lịch Tổ chức DL thế giới cho rằng, DL bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích thăm quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư. Theo Luật DL Việt Nam, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Du lịch là tổng hợp các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi lưu trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, vui chơi – giải trí, nâng cao nhận thức về tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội và làm việc không thường - Khái niệm hoạt động du lịch Theo Khoản 3, Điều 3 của Luật Du lịch năm 2018 “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch”. Như vậy, đứng về phía khách du lịch (phía cầu), hoạt động du lịch sẽ bao gồm các hoạt động tham quan, giải trí,tìm hiểu, nghĩ dưỡng. của du khách trong một khoảng thời gian nhất đinh. Về phía các cơ sở dịch vụ du lịch, hoạt động du lịch là các hoạt động cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống, đi lại, tham quan, tìm hiểu, nghĩ dưỡng của các doanh nghiệp lữ hành, các khách sạn, nhà hàng và các cơ sở cung cấp các dịch vụ du lịch khác.
8 Khái niệm phát triển du lịch Phát triển du lịch là hoạt động khai thác có quản lý tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương. Phát triển DL còn được hiểu là sự gia tăng quy mô hoạt động DL và nâng cao chất lượng, hiệu quả du lịch theo thời gian. Nghĩa là, địa phương khai thác tiềm năng tài nguyên DL và các điều kiện cần thiết nhằm tạo ra SP DL đáp ứng nhu cầu thị trường. Các giai đoạn phát triển DL tại điểm đến có những tác động tích cực và tiêu cực gây hại đến môi trường, tài nguyên và mọi mặt đời sống xã hội nơi đây.
Phát triển du lịch, về nội dung, thực chất là phát triển các hoạt động du lịch, kể cả về phía cầu (thỏa mãn các nhu cầu của du khách) và phía cung (cung ứng các dịch vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch). Điểm đến du lịch/điểm du lịch Các hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu tại các điểm đến du lịch. Việc hiểu rõ về điểm đến du lịch sẽ giúp cho các nhà quản lý và những người làm du lịch quản lý và vận hành điểm đến theo từng giai đoạn và chu kỳ phát triển tương ứng của vòng đời điểm đến. Tổng hợp các điểm đến của một huyện tại một thời điểm/thời kỳ nào đó sẽ cho thấy độ chín muồi (steady state) của các hoạt động du lịch và ngành du lịch của địa phương ấy trong thời gian nghiên cứu.
Ở Việt Nam, Luật DL mới (năm.) đã đưa ra khái niệm về điểm DL. Đó là nơi có tài nguyên DL hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách DL. Điểm DL là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị phân vùng DL, có quy mô nhỏ, diện tích, không gian riêng biệt. Khái niệm điểm DL chưa chỉ rõ được quy mô, mức độ, điều kiện tiếp cận và cả vấn để quản lý Nhà nước cho phát triển DL.
Theo Tổ chức DL thế giới thì Điểm đến DL là một nơi cụ thể, theo đó khách DL lưu lại ít nhất một đêm và có các SPDL như các DV, tính hấp dẫn và các tài nguyên DL với biên giới hành chính xác định, có sự quản lý, hình ảnh và cảm nhận 9 của năng lực cạnh tranh thị trường. Đây là khái niệm có tính khái quát cao, để cập đến các góc độ liên quan điểm đến và theo đó, điểm đến có thể là toàn bộ các quốc gia, các lục địa, một quốc gia, hay một tỉnh, thành phố,. Để tài sử dụng khái niệm này để tiếp cận nghiên cứu. Quá trình hình thành và phát triển của điểm đến DL trải qua chu kỳ tương tự chu kỳ sống của SP gồm 5 giai đoạn riêng biệt: khám phá, tham gia, phát triển, củng cố, bão hòa (suy thoái hoặc tái sinh) (Hình 1.1: Vòng đời của một điểm đến DL (Nguồn: Tổ chức DL Thế giới) Giai đoạn khám phá: Số lượng nhỏ du khách bị thu hút bởi hấp dẫn tự nhiên, VH; số khách đến chủ yếu từ những khu vực lân cận và số cơ sở DL có giới hạn.
Giai đoạn tham gia: Bắt đầu có sự tham gia của cư dân địa phương trong việc cung cấp một số phương tiện cho du khách, bước đầu thu hút thị trường khách trong khu vực và các vùng khác của quốc gia. Giai đoạn phát triển: Số lượng khách DL đến nhiều; xuất hiện các tổ chức chuỗi KS; nhà điều hành tour có một vai trò quan trọng, du khách có thể đến từ các vùng của quốc gia hoặc quốc tế. Giai đoạn củng cố: DL trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế địa phương và có thể trở thành lĩnh vực kinh tế trọng điểm. Tỷ lệ tăng trưởng khách đến có thể đã chững lại và một số cơ sở có thể cần được nâng cấp.
10 Giai đoạn bão hòa: Số lượng khách đến đã đạt đỉnh điểm, điểm đến không còn được coi là mới và có thể cho doanh thu KD bất động sản cao. Tùy thuộc vào cách ứng phó của nhà quản lý điểm đến mà sau giai đoạn bão hòa có thể là các kịch bản khác nhau, bao gồm suy thoái hoặc tái sinh. Chính vì thế, ở giai đoạn bão hòa, các nhà quản lý cần phải can thiệp và hành động để tránh suy thoái. Khái niệm quản lý các hoạt động du lịch Khái niệm về quản lý: theo Từ điển tiếng Việt, Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hay cơ quan chính phủ.
Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Trong đời sống xã hội, quản lí xuất hiện khi có hoạt động chung của con người. Quản lí điều khiển và chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân để tạo thành hoạt động tập thể thống nhất nhằm đạt được mục tiêu đã được định trước. Để thực hiện hoạt động quản lí cần phải có tổ chức và quyền uy.
Tổ chức phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung; quyền uy đem lại khả năng áp đặt ý chí của chủ thể quản lí đối với các đối tượng quản lí, bảo đảm sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền lực là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lí điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lí thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình. Khái niệm quản lý (Nnhà ) về các hoạt động du lịch Quản lý (Nhà nước) về du lịch là sự tác động của Nhà nước trong việc quản lý các hoạt động du lịch ng bằng cách sử dụng quyền lực của Nhà nước nhằm tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ và kiểm soát sự phát triển các hoạt dộng du lịch. Quản lý nhà nước về các hoạt động du lịch có vai trò quan trọng Thứ nhất, định hướng cho hoạt động du lịch phát triển tích cực, vẫn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế song vẫn giữ gìn các giá trị truyền thống và bảo tồn tài nguyên du lịch của đất nước.
11 Thứ hai, hình thành và hoàn thiện môi trường pháp lý toàn diện, ổn định cho hoạt động du lịch trong cả nước, cho từng vùng và từng địa phương cụ thể. Thứ ba, dung hoà mối quan hệ và lợi ích giữa du lịch với các ngành kinh tế khác; đảm bảo hài hoà về quyền lợi giữa cộng đồng dân cư, nhà đầu tư du lịch và khách du lịch. Thứ tư, hỗ trợ, khuyến khích các đối tượng quản lý (doanh nghiệp, cộng đồng, hộ dân, nhà đầu tư.) để họ có thêm điều kiện thuận lợi trong phát triển các hoạt động du lịch (nguồn nhân lực, nguồn vốn, kết nối cung – cầu.) Khái niệm quản lý (Nhà nước) các hoạt động du lịch ở cấp huyện: Quản lý (Nhà nước) các hoạt động du lịch ở cấp huyện là công tác quản lý của các cơ quan Nhà nước hữu quan đối với các hoạt động du lịch diễn ra trên địa bàn huyện. Chủ thể quản lý ở cấp huyện ở đây chính là UBND huyện và cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND huyện (là Phòng Văn hóa và Thông tin huyện).
Đối tượng bị quản lý là UBND cấp xã và các doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch và du khách. Nội dung quản lý là quản lý các hoạt động du lịch diễn ra trên địa bàn huyện. Về phía du khách, đó là các hoạt động tham quan, tìm hiểu, thưởng lãm các tài nguyên du lịch về phong cảnh tươi đẹp, khí hậu mát lành (sản phẩm du lịch sinh thái), về phong tục, tập quán, truyền thống bản địa, nghề truyền thống, dân ca, dân vũ, lễ hội.