Chương 1 : Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch biển Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch biển tại Hải Phòng Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch biển – từ thực tiễn Hải Phòng. 8 e Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH BIỂN 1. Những vấn đề chung về du lịch biển 1. Khái niệm du lịch Thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với nghĩa là đi quanh, cuộc dạo chơi, cuộc dã ngoại.
Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành thành “tourisme” (Tiếng Pháp) và “tourism” (Tiếng Anh). Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa khái niệm du lịch, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài đất nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Theo tác giả Micheal Coltman (Mỹ): Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch.
Trong đó, khách du lịch là khách hàng rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến các nơi khác và quay trở lại nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau, trừ mục đích kiếm tiền; nhà cung ứng là các tổ chức kinh tế, đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho hoạt động du lịch; dân cư sở tại là những người dân ở tại địa phương diễn ra hoạt động du lịch; chính quyền địa phương là cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương tại điểm du lịch. Tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa định nghĩa về du lịch như sau: "Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp e9 ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lich. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước (địa phương) làm du lịch và bản thân doanh nghiệp" [17, tr. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm du lịch xét trên nhiều góc độc khác nhau.
Cụ thể, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh và xem xét dưới góc độ cầu du lich (khách du lịch) và cung du lịch (ngành du lịch) như sau: [41, tr.29] Thứ nhất, du lịch là một dạng ngh dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: ngh dưỡng, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyên thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo quan niệm này du lịch chính là một ngành kinh tế tổng hợp. Theo luật du lịch Việt Nam 2017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [30].
Tổng hợp các cách tiếp cận như trên, du lịch bao gồm hai thành tố, đó là: Thứ nhất, du lịch là một nhu cầu, hiện tượng xã hội: sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích thư giãn, phục hồi sức khoẻ, nâng cao hiểu biết, thỏa mãn nhu cầu nhận thức về tự nhiên xã hội tại điểm đến. e 10 Thứ hai, đó là một ngành hay hoạt động kinh doanh: Cung cấp các ấn phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú. Cách hiểu về du lịch như vậy có ý nghĩa thúc đẩy quan điểm phát triển đúng đắn về du lịch, tránh hiểu phiến diện về du lịch, ch nhìn nhận du lịch theo góc độ nhu cầu xã hội hoặc góc độ ngành kinh tế. Khái niệm du lịch biển Vùng biển Hải Phòng được ưu đãi về tài nguyên du lịch tự nhiên và bề dày văn hóa lịch sử truyền thống của người Hải Phòng đã tích tụ những giá trị ăn hóa tinh thần độc đáo làm phong phú nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, tạo điều kiện thuận lợi cho Hải Phòng phát triển du lịch biển.
Theo đó, có thể khái quát như sau: Du lịch biển là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người đến vùng biển nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch gắn với biển. Du lịch biển được thực hiện ở khu vực có biển nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch về ngh dưỡng, vui chơi giải trí, khám phá, mạo hiểm,. trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch biển bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Tài nguyên du lịch biển tự nhiên là các điều kiện về địa hình, cảnh quan thiên nhiên ven biển, quần thể sinh vật trên cạn, dưới dưới đáy biển, mặt nước biển, sóng biển, gió biển, cát biển và các hòn đảo tự nhiên, khí hậu biển, Hải Phòng tiêu biểu các vùng tài nguyên du lịch biển sau đây: Biển Cát Bà thuộc huyện Cát Hải được thiên nhiên ưu đãi dành cho nhiều hòn đảo tuyệt đẹp, những bãi cát trắng mịn màng tại những bãi diển danh tiếng, rất nhiều hang động kỳ thú trên bờ và nằm dưới biển, tài nguyên sinh vật biển giàu có và phong phú từ lâu đã được du khách trên thế giới biết đến và ưa chuộng như hải sản quý phục vụ chế các món ăn rất hấp dẫn khách du lịch gần xa như tôm, cua, sò huyết, sá sùng, bào ngư.
; những tài nguyên sinh vật biển e 11 còn là nguồn cung cấp nguyên liệu như đồi mồi, ngọc trai, san hô, gỗ quý cho các ngành thủ công, mỹ nghệ sản xuất những mặt hàng mà người nước ngoài ưa chuộng. Nhìn chung, hệ thống đảo và bán đảo ven bờ biển của Hải Phòng có giá trị rất lớn trong phát triển du lịch đặc biệt là loại hình tham quan, ngh dưỡng và khám phá. R ng quốc gia Cát Bà nằm trên đảo Cát Bà là một Vườn Quốc Gia đặc biệt, với sự kết hợp của nhiều hệ sinh thái khác nhau: Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái rừng ngập nước trên núi cao, hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng duyên hải, hệ sinh thái vùng biển với các rạn san hô gần bờ, hệ thống hang động và hệ canh tác nằm giữa các thung lũng. Sự đa dạng của các kiểu rừng đã hình thành nên sự phong phú của khu hệ động, thực vật Cát Bà.
Năm 2004, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO - Tiếng Anh) đã chính thức công nhận khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà về các giá trị nổi bật, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Cát Bà chứa đựng tài nguyên sinh vật phong phú phục vụ du lịch, thu hút nhiều du khách đến tham quan. Khu rừng nguyên sinh nhiệt đới ở đây có hệ động thực vật vô cùng phong phú. Thực vật có 741 loài, động vật có 282 loài.
Đặc biết voọc Cát Bà là loài thú đặc biệt quý hiếm trên thế giới ch còn lại ở Việt Nam. Vùng biển Đồ Sơn là khu ngh mát và tắm biển nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam, nơi đây có sự kết hợp hài hòa giữa những bãi cát trắng mịn màng, biển cả mênh mông đậm màu phù sa và một bên là những ngọn núi đồi thông, phi lao. Với khí hậu, phong cảnh và địa hình được thiên nhiên ưu đãi cùng với sự đầu tư mạnh mẽ vào Casino, khu du lịch đảo Dáu với bể bơi nhân tạo lớn nhất Châu Á, vườn chim, vườn thú, khu vui chơi giải trí, khu Đà Lạt thu nhỏ, các khách sạn đẳng cấp 3 đến 5 sao, ngọn hải đăng cổ kính hơn trăm tuổi…, nơi đây hằng năm thu hút rất đông du khách đến vui chơi giải trí. Tài nguyên du lịch biển nhân văn là tổng thể các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du e 12 lịch biển như các các công trình xây dựng (khu vui chơi giải trí, khu thể thao, viện bảo tàng hải dương học.), các làng xã ven biển với nghề thủ công đặc trưng, các di tích lịch sử, các lễ hội văn hoá truyền thống trên vùng đất ven biển, các sản vật được chế tạo dựa vào khai thác tài nguyên biển.
Mảnh đất giàu bản sắc văn hoá của vùng biển đã sản sinh nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc của Hải Phòng, cụ thể thể là: Các di tích lịch sử văn hoá: Hải Phòng còn gìn giữ được rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, nhiều đền, chùa, tháp, lăng miếu và các sinh hoạt văn hoá dân tộc ở từng làng xã. Hiện nay Hải Phòng có 162 di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia và cấp thành phố. Trong số đó có 62 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 27 di tích được xếp hạng cấp thành phố tập trung ở 7 quận huyện ven biển, chiếm 54,94% tổng số.