CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CƠ BẢN VE XỬ PHẠT VI PHAM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm vi phạm hành chính Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống tri trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện băng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích đảm bảo trật tự an toàn, ôn định và phát trién bền vững của xã hội [7, tr. Pháp luật có 3 chức năng gồm điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục.
Sở di có những chức năng nay là vì trong xã hội vẫn tồn tại những “vi phạm pháp luật” - là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và phần lớn gây hậu quả xấu đối với xã hội. Vi phạm pháp luật là hành vi trái với luật pháp của một quốc gia mang tính có lỗi của chủ thê có năng lực trách nhiệm pháp lý xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật thì vi phạm pháp luật sẽ được phân loại thành vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự. Trong các loại VPPL đó thì VPHC thường diễn ra phố biến và có tác động tiêu cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu không được ngăn chặn kịp thời.
Chính vì vậy, Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy định về xử phạt VPHC và tiếp tục được kế thừa, bổ sung và hoàn thiện hơn trong thời gian gần đây như Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Luật Xử lý VPHC năm 2012, sửa đôi bổ sung năm 2020 (sau đây gọi tat là Luật xử lý VPHC 2012). Từ các đạo luật của Quốc hội mà Chính phủ ban hành các Nghị định Xử phạt VPHC trên nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực giáo dục — đào tạo, lĩnh vực y tế, lĩnh vực hải quan, lĩnh vực đầu tư xây dung, lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Lần đầu tiên định nghĩa VPHC được nêu trong pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989. Điều 1 Pháp lệnh định nghĩa như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện một cách cố ÿ hoặc vô ÿ, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải tội phạm hình sự theo quy định của pháp luật phải bị xứ phạt hành chính ” [1]1, Điều 1].
Sau nhiều lần sửa đổi, b6 sung, Khoản 1, điều 2 Luật Xử phạt VPHC năm 2012 định nghĩa: “VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xứ phạt VPHC”. Mặc dù có sự khác nhau về cách diễn đạt tuy nhiên các định nghĩa trên đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của hành vi vi phạm pháp luật này. Trên cơ sở các định nghĩa được đề cập ở trên, có thể đưa ra định nghĩa như sau: “VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân hoặc tô chức thực hiện, xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, tập thể, cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý bằng chế tài hành chính ”. Khai niệm xử phạt vi phạm hành chính Các hành vi VPHC đều sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ở Pháp lệnh Xử phạt VPHC năm 2002 không định nghĩa khái niệm xử phạt VPHC mà chỉ nói rang “Việc xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cô ý hoặc vô ý vi phạm các quy định cua pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính ” [12]. Sau này, tại Khoản 2, điều 2 Luật Xử phạt VPHC 2012, các nhà luật học đã thống nhất định nghĩa: “Xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyên xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về xử phạt VPHC” [14]. Có thé thấy, xử phạt VPHC là một loại hoạt động cưỡng chế nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước phát sinh khi có VPHC, biéu hiện việc áp dụng các chế tai hành chính mang tính chất xử lý nghiêm khắc của các chủ thể có thẩm quyền nhân 10 danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật. Một hành vi bị coi là VPHC khi hành vi đó được quy định trong pháp luật về xử phạt hành chính.
Xử phạt hành chính được thực hiện bởi các chủ thé có thẩm quyền. Các chủ thể này nhân danh nhà nước, đại diện cho ý chi, quyền lực của nhà nước trong việc xác định một cá nhân hay tô chức có hay không hành vi VPHC và các hậu quả pháp lý do các hành vi vi phạm đó gây ra. Tất cả các hành vi được xác định là vi phạm phải được luật định. Hoạt động XPVPHC đều được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục hành chính luật định, kết quả cuối cùng được thể hiện bằng quyết định XPVPHC.
Khi các quyết định xử phạt này được ban hành, người vi phạm sẽ phải chịu hậy quả pháp lý nhất định trước Nhà nước về tinh thần hoặc vật chất. Các đối tượng bị xử phạt bắt buộc phải thực hiện các quyết định này. Với những cơ sở trên, có thé thay, định nghĩa Xử phạt VPHC theo Luật Xử lý VPHC 2012 là đầy đủ và khá chặt chẽ, tác giả xin đúc kết theo quan điểm cá nhân như sau: “Xử phat vi phạm hành chính là việc chủ thể có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả đối với những tổ chức, ca nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật”. Khái niệm giao thông đường bộ Theo Wikipedia: Giao thông là hệ thống di chuyển, đi lai của mọi người, bao gồm những người tham gia giao thông dưới các hình thức di bộ, cưỡi động vật hoặc chăn gia súc, sử dụng xe đạp, xe may, 6 tô hay các phương tiện giao thông khác, một cách đơn lẻ hoặc cùng nhau.
Giao thông thường có tổ chức và được kiêm soát bởi cơ quan có thâm quyền. Giao thông được tổ chức ở khắp mọi nơi, với các làn đường, hệ thống chuyên làn, tín hiệu giao thông hoặc biển báo được đánh dấu. Giao thông thường được phân theo các loại: xe cơ giới (như ô tô, xe máy), phương tiện khác (như xe đạp, xích lô) và người đi bộ. Mỗi loại khác nhau sẽ có những làn đường nhất định, các quy định riêng về hình thức, giới hạn tốc độ.
Một số khu vực đặc biệt có thể có các quy tắc rất chỉ tiết và phức tạp, hoặc luật ngầm mà mọi người phải tự hiểu, 11 trong khi những khu vực khác còn phụ thuộc vào ý thức chung và sự sẵn sàng hợp tác của người lái xe. Giao thông có tô chức thường tạo ra một sự kết hợp tốt giữa an toàn và hiệu quả đi lại. Các sự kiện làm gián đoạn có thể khiến giao thông thoái hóa thành một sự hỗn độn như xây dựng đường, tai nạn giao thông hay các vật cản trên đường. Đặc biệt trên đường cao tốc bận rộn, một sự gián đoạn nhỏ có thể tạo ra một hiện tượng được gọi là làn sóng giao thông.
Một lỗ hồng của việc tổ chức giao thông có thé dẫn đến tắc nghẽn giao thông. Mô phỏng lưu lượng giao thông có tổ chức thường liên quan đến lý thuyết xếp hàng, quy trình ngẫu nhiên và phương trình vật lý toán học áp dụng cho lưu lượng giao thông. Tại bất cứ quốc gia nào, vận tải đường bộ cũng đều chiếm một vị trí quan trọng, góp phần thúc day phát triển kinh tế — xã hội, bao đảm nền quốc phòng — an ninh. Trong những năm gần đây, nhận thức được vai trò của việc xây dựng một hệ thống giao thống nhất là đường bộ, Bộ Giao thông vận tải đã nỗ lực đầu tư hệ thống kết cấu ha tầng giao thông đường bộ theo hướng đồng bộ, hiện đại, tăng tính kết nối, góp phan thu hẹp khoảng cách vùng miền.
Theo quy định tại Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2019 thì đường bộ được hiểu như sau: 1. Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, ham đường bộ, bến pha đường bộ. Công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vu giao thông và hành lang an toàn đường bộ.
Đất của đường bộ là phần đất trên đó công trình đường bộ được xây dựng va phan đất dọc hai bên đường bộ dé quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ. Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tinh từ mép ngoài dat của đường bộ ra hai bên dé bảo đảm an toàn giao thông đường bộ [15, Điều 3]. Đường bộ được chia thành 06 loại: quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng, cụ thể: Quốc lộ là đường nối liền thủ đô Hà Nội với trung tâm hành chính cấp tỉnh; đường nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phương trở lên; đường nối liền từ cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế đến các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính trên đường bộ; có vi trí đặc biệt quan trong đối với sự phát triển kinh tế — xã hội của khu vực.