Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông. Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông. Chương 3: Quan điểm, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC LƢU VỰC SÔNG 1.
Các quan niệm: lƣu vực sông, quản lý lƣu vực sông, quản lý môi trƣờng theo lƣu vực sông 1. Lưu vực sông Tất cả các dòng nước chảy, từ các lạch nhỏ bé đến dòng chảy rộng hàng chục kilomet đều được gọi là các dòng sông. Đó là những rãnh nông của trái đất với những dòng chảy uốn lượn nhiều hay ít, do các tính chất địa lý quyết định. Dòng sông được giới hạn bởi hai bờ [16].
Khoản 15 Điều 4 Luật Tài nguyên nước năm 1998 định nghĩa: Lưu vực sông (Rivershed/ River basin) có thể được hiểu là một vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông [36]. Có thể hiểu đơn giản, lưu vực sông là vùng lãnh thổ mà tất cả mưa rơi trên đó hình thành nên dòng chảy (chảy mặt và ngầm) và tiêu thoát về cùng một dòng. Các lưu vực sông rất quan trọng vì dòng chảy và chất lượng nước của một con sông chịu tác động của nhiều thứ, có ảnh hưởng của con người hay không có ảnh hưởng của con người, xuất hiện trong những vùng phía trên mặt cắt cửa ra của lưu vực. Lưu vực sông là một khu vực địa lý được xác định bởi các tính chất riêng, chủ yếu bởi các đường giới hạn của các dòng chảy nước mặt hội tụ thành một nguồn nước duy nhất.
Lưu vực sông, nguồn lực tài nguyên và các thành tố của nó có tính chất vật lý, sinh học, kinh tế-xã hội và văn hóa, và những tính chất này đã mang lại cho lưu vực sông những đặc trưng rất riêng biệt. Một lưu vực sông đại diện cho một vùng tự nhiên tập trung nước mặt, nước dưới đất và do đó có một ý nghĩa cơ bản về mặt thủy văn. Tại cùng một thời điểm, các dòng nước trong lưu vực sông tập hợp thành một nguồn sống cung cấp cho con người, mặc dù nó cũng có thể là một nguồn nguy hiểm khi các hiện tượng tự nhiên tiêu cực xảy ra, hoặc nó bị ô nhiễm. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lưu vực là nguồn nuôi dưỡng của con sông.
Mọi hoạt động trong lưu vực đều ảnh hưởng đến dòng sông. Vùng tập trung nước của sông, suối được giới hạn bởi các đường chia nước. Lưu vực khép kín là lưu vực có đường chia nước mặt và đường chia nước ngầm trùng nhau. Các lưu vực sông thường có điều kiện tự nhiên, môi trường phong phú, đa dạng, có vị thế đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.
Trong những năm qua, ở tất cả các lưu vực sông đã diễn ra quá trình phát triển nhiều ngành kinh tế dựa trên việc sử dụng nguồn nước của lưu vực như thủy điện, giao thông, du lịch, nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt và sản xuất… Đồng thời, với ưu thế đại lý thuận lợi, lưu vực cũng là nơi phát triển mạnh mẽ các khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và các làng nghề. Hiện nước ta có 3 loại lưu vực sông là lưu vực sông lớn, lưu vực sông liên tỉnh và lưu vực sông nội tỉnh, cụ thể: - Nhóm các sông có thượng nguồn của lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam như sông Bằng Giang- Kỳ Cùng, sông Sê San, sông Srepok. - Nhóm các sông có trung và hạ du của lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam như sông MeKong, sông Hồng-Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai- Sài Gòn. - Nhóm các sông có toàn bộ lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam như các sông ở Quảng Ninh, các sông ở Trung và Nam Trung Bộ ( sông Gianh, Nhật Lệ, Thạch Hãn, Hương, Thu Bồn, Ba, Trà Khúc, Côn…).
Hệ thống các lưu vực sông này được chia thành 16 lưu vực, trong đó 10 lưu vực có diện tích hơn 10.000 km2, chiếm 80% diện tích cả nước, 70% nguồn nước và hơn 80% tổng dân số. Các lưu vực sông lớn nhất là Đồng bằng sông MeKong và đồng bằng sông Hồng- sông Thái Bình, chiếm một nửa lãnh thổ cả nước [16]. Mặc dù được đánh giá là quốc gia có nhiều lưu vực sông, nhưng công tác quản lý còn quá nhiều bất cập, ảnh hưởng tới công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Quản lý lưu vực sông Quản lý tài nguyên nước cũng tương tự như quản lý xung đột giữa con người với môi trường sống.
Hệ thống quản lý tài nguyên nước và quản lý lưu vực sông được tạo ra để tránh, ngăn chặn hoặc giải quyết những xung đột như vậy. Con người cần phải học cách sống với những xung đột và đối phó với chúng. Sẽ còn nhiều xung đột hơn nữa trong tương lai khi mà sự khan hiếm nước sẽ trở nên cấp bách, là hậu quả của tăng trưởng kinh tế, nhu cầu xã hội và biến đổi khí hậu. Cạnh tranh giữa người sử dụng nước sẽ trở nên dữ dội và tàn nhẫn, vì vậy mà pháp luật và tổ chức quản lý hệ thống phù hợp sẽ là cần thiết [54].
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước của một lưu vực sông là một cách tiếp cận mới nhằm giúp giải quyết các vấn đề lớn về tài nguyên và môi trường nước đang gặp phải tại nhiều quốc gia, đảm bảo sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên vô giá này. Đó chính là quy trình tổng hợp những quan điểm và lợi ích của các ngành khác nhau trong quá trình quyết định, lưu tâm thích đáng đến quan hệ thượng lưu- hạ lưu [16]. Đây là một thuật ngữ phổ biến kể từ sau Hội nghị quốc tế về Nước và Môi trường ở Dublin (1992) và cũng là một nguyên lý được vận dụng phổ biến trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ tài nguyên nước. Theo định nghĩa của Tổ chức Cộng tác vì Nước toàn cầu (GWP): “Quản lý tài nguyên nước tổng hợp là một quá trình xúc tiến sự phối hợp phát triển và quản lý nước, đất và các tài nguyên liên quan để đạt được tối đa trong phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội theo một phương thức hợp lý mà không làm tổn hại đến sự bền vững của các hệ sinh thái quan trọng”.
Như vậy, việc quản lý tài nguyên nước tổng hợp là nhằm cân bằng giữa quan điểm và mục đích của các nhóm dân cư khác nhau, ở các vùng địa lý khác nhau về mục đích quản lý nước và bảo vệ việc cung cấp nước cho hệ thống tự nhiên và hệ sinh thái [46]. Có nhiều cách định nghĩa về quản lý lưu vực sông, nhưng có thể hiểu đây là một khái niệm rộng gắn với các kế hoạch, chính sách và hoạt động nhằm kiểm soát nguồn nước, tài nguyên và môi trường cũng như các quá trình liên quan trong một 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lưu vực nhất định. Quy mô của việc quản lý lưu vực sông tuỳ thuộc vào các điều kiện tài nguyên, địa lý và hành chính. Quản lý lưu vực sông được xác định là một quá trình quy hoạch, xây dựng và thực hiện việc khai thác các dạng tài nguyên trong một lưu vực sông, xem xét toàn diện và đầy đủ các nhân tố có liên quan đến xã hội, kinh tế, môi trường trong mối tương tác về không gian (giữa các bộ phận trong lưu vực: thượng lưu, trung lưu, hạ lưu) tương tác giữa các nhân tố (chống xói mòn, rửa trôi, làm thoái hóa đất, giảm sức sinh sản của rừng và đất nông nghiệp, ngăn chặn bồi lắng, lũ đá, chống nhiễm bẩn nước…).
Hình thành các tổ chức lưu vực sông được coi như một phương tiện hữu hiệu để quy hoạch và thực hiện các nội dung phát triển kinh tế- xã hội. Khi nói tới quản lý lưu vực sông là đề cập hoạt động quản lý chất lượng nước và điều phối sử dụng tài nguyên nước hợp lý nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững lưu vực sông. Quản lý lưu vực sông có một số tiêu chuẩn cơ bản sau: (i) thống nhất và tổng hợp theo ngành và tiểu ngành; (ii) thống nhất và tổng hợp về môi trường, kinh tế và xã hội; (iii) thống nhất và tổng hợp về mặt hành chính; (iv) thống nhất và tổng hợp về mặt địa lý; (v) thống nhất và tổng hợp về mặt tài trợ. Quản lý lưu vực sông còn phải đạt được 3 mục tiêu chiến lược sau (GWP,2003): (i) Hữu hiệu trong phát triển và sử dụng tài nguyên trong lưu vực sông: Đạt được mức độ phát triển kinh tế và phúc lợi tối đa từ tài nguyên nước và từ các dịch vụ đầu tư trong ngành nước; (ii) Bình đẳng và (hợp lý) trong phân phối tài nguyên nước và các dịch vụ nước đối với các ngành kinh tế/các nhóm xã hội khác nhau để làm giảm mâu thuẫn và đẩy mạnh sự phát triển xã hội bền vững; (iii) Bảo vệ môi trường: Tất cả những cố gắng đổi mới trong quản lý tài nguyên nước sẽ bị thất bại nếu bản thân hệ thống tài nguyên nước và các hệ sinh thái liên quan bị tổn thương [46].
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lý môi trường theo lưu vực sông Như đã phân tích, quản lý môi trường lưu vực sông là một trong 3 mục tiêu của quản lý lưu vực sông. Quản lý môi trường lưu vực sông bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng nguồn nước mặt (sông, hồ) và quản lý các nguồn thải nước từ hoạt động kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp) và dân sinh (đô thị) để duy trì (hay phục hồi) chất lượng nước để đáp ứng nhu cầu dùng nước hiện tại (hay quy hoạch sử dụng nước tương lai). Quản l ý môi trường lưu vực sông bao gồm 3 quá trình: (i) thứ nhất là sự phát hiện vấn đề, phát hiện các mối đe dọa tiềm ẩn đối với sức khoẻ con người và các hệ sinh thái trong lưu vực; (ii) thứ hai là sự tham gia của các bên liên quan: Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi do sự tham gia của các bên liên quan, đòi hỏi mọi người phải có sự quan tâm thích đáng hoặc thích hợp nhất; (iii) thứ ba là sự phối hợp hành động nhằm thực hiện một cách tổng hợp và toàn diện các giải pháp được xác định.