Tổng quan luận án

Bảo vệ môi trường trong quá trình tăng trưởng kinh tế là một nội dung trung tâm của chiến lược phát triển bền vững. Tỉnh Quảng Ninh nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, có hơn 80% diện tích là đồi núi, đồng thời sở hữu bể than đá lớn nhất cả nước, chiếm 90% sản lượng than toàn quốc. Theo số liệu tính toán của Tổng cục Địa chất năm 1994, trữ lượng than tự nhiên tại Quảng Ninh đạt khoảng 12 tỷ tấn, trong đó tổng trữ lượng đã qua công tác thăm dò, tìm kiếm và khai thác là 3,633 tỷ tấn. Việc gia tăng quy mô và sản lượng khai thác than nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu đã tạo ra sức ép đối với hệ sinh thái địa phương, dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và biến dạng địa hình, cảnh quan. Thực tế phát triển tại Quảng Ninh bộc lộ xung đột giữa hoạt động khai thác than, phát triển công nghiệp nặng với định hướng phát triển du lịch, dịch vụ và đô thị hóa. Trước yêu cầu giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế với bảo đảm an ninh môi trường hướng tới mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Huệ, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Chu Văn Cấp tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2017), đi sâu nghiên cứu đề tài: "Bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh".

Mục tiêu chung của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo vệ môi trường trong khai thác than; đánh giá thực trạng bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác than gắn với quá trình phát triển kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001–2015; từ đó đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp gắn kết bảo vệ môi trường với khai thác than nhằm thúc đẩy phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.

Văn bản luận án xác định hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa bảo vệ môi trường và khai thác than là như thế nào?
  2. Bảo vệ môi trường trong khai thác than là như thế nào?
  3. Thực trạng của môi trường và bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh ra sao?
  4. Giải pháp nào để bảo vệ môi trường trong khai thác than nhằm đảm bảo phát triển bền vững ở Quảng Ninh trong thời gian đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025?

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được đánh số theo văn bản:

  1. Tổng quan và làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ môi trường trong khai thác than.
  2. Đánh giá thực trạng bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh thời gian từ năm 2001 đến năm 2015.
  3. Đề xuất quan điểm và các giải pháp gắn kết bảo vệ môi trường trong khai thác than để góp phần phát triển bền vững ở Quảng Ninh thời gian tới năm 2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác than dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa bảo vệ môi trường và khai thác than; đánh giá thực trạng bảo vệ môi trường ngành than tại Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp kinh tế - xã hội, quản lý.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ tỉnh Quảng Ninh và ngành công nghiệp khai thác than trên địa bàn.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, phân tích số liệu thực trạng giai đoạn 2001–2015 (có cập nhật dữ liệu năm 2016); các giải pháp định hướng áp dụng cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu tiền nhiệm theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về môi trường và bảo vệ môi trường nói chung. Nhóm nghiên cứu này tập trung làm rõ khái niệm, chức năng và vai trò của môi trường đối với phát triển kinh tế - xã hội. Tiêu biểu là các công trình của Lê Huy Bá (2002) với Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững; Trần Văn Chử (2004) với Tài nguyên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam; Nguyễn Thế Chinh (chủ biên, 2003) với Kinh tế và quản lý môi trường; Bộ Công thương (2010) với Doanh nghiệp Việt Nam và những vấn đề môi trường; Nguyễn Đức Lợi và Phạm Văn Nhật (đồng chủ biên, 2013) với Kinh tế môi trường. Về khía cạnh ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững, các tác giả Trần Thanh Bình (2006), Nguyễn Thị Kim Thái (2003), Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa (đồng chủ biên, 2009) đã phân tích mối quan hệ giữa ba trụ cột kinh tế, xã hội và sinh thái. Khái niệm phát triển bền vững được điểm lại từ Chiến lược bảo tồn thế giới (IUCN, 1980), định nghĩa của Tổ chức Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), báo cáo Brundtland và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam. Trên các diễn đàn tạp chí chuyên ngành, các bài viết của Chu Văn Cấp và Nguyễn Đức Hà (2013), Chu Văn Cấp và Nguyễn Thị Minh Tân (2012), Nguyễn Thế Chinh (2009, 2013, 2014), Trương Quang Học (2011), Vũ Thành Hưởng (2011), Trương Mạnh Tiến (2002) đã luận giải quá trình chuyển đổi mô hình từ phát triển "nâu" sang "xanh".

Nhóm 2: Những nghiên cứu về khai thác khoáng sản (có than) và vấn đề môi trường. Các nghiên cứu làm rõ vai trò nguyên liệu then chốt của khoáng sản đối với các ngành nhiệt điện, xi măng, hóa chất cũng như vị thế an ninh quốc gia theo quy định của Luật Khoáng sản năm 2010. Tác giả Nguyễn Quốc Hùng (2010) chỉ rõ sự bất cập của mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thô. Về tác động thực tế, Hồ Sĩ Giao và Mai Thế Toản (2010) nghiên cứu các điểm nóng môi trường trong hoạt động khai thác mỏ tại Việt Nam; Nguyễn Thị Kim Ngân (2000) khảo sát ô nhiễm môi trường vùng than Quảng Ninh; Đặng Văn Thuận và cộng sự (2012) phân tích thực trạng quản lý tài nguyên khoáng sản trong bối cảnh phát triển bền vững. Các tài liệu ghi nhận hệ lụy của việc khai thác mỏ dẫn tới xói lở địa hình, bồi lấp sông suối, ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt, phát tán bụi và khí thải.

Nhóm 3: Khai thác than và vấn đề bảo vệ môi trường. Các công trình chuyên sâu về ngành than gắn với bảo vệ môi trường gồm các nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Nam (2006, 2013a, 2013b) về quy hoạch tuyến vận chuyển than, cơ chế quản lý chống khai thác trái phép và sản xuất than hướng đến công nghiệp xanh; nghiên cứu của Võ Kim Chi về nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng; Trần Minh Huân (2012) khảo sát kinh nghiệm khai khoáng bền vững tại Úc (công ty than Illawarra, Alcoa); Hồ Sĩ Giao, Bùi Xuân Nam và Mai Thế Toản (2010) trình bày các giải pháp kỹ thuật bảo vệ môi trường trong khai thác mỏ lộ thiên; Cao Quang Xứng và Trịnh Thị Nhàn (2014) khảo sát việc ứng dụng khoa học công nghệ vào khai thác than ở Quảng Ninh. Ngoài ra còn có các đề tài, luận án chuyên sâu như dự án VIE/95/2003 của UNDP (1997) về quản lý môi trường mỏ than lộ thiên Quảng Ninh; luận án tiến sĩ kỹ thuật của Đặng Thị Hải Yến (2014) về cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than lộ thiên Hòn Gai - Cẩm Phả; luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Kim Ngân (2012) về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường than Quảng Ninh.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu môi trường mỏ dưới góc độ kỹ thuật mỏ, khoa học môi trường hoặc luật học, song còn thiếu vắng các nghiên cứu có hệ thống tiếp cận vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác than dưới góc độ kinh tế chính trị. Cụ thể, các khoảng trống được luận án xác định và tập trung giải quyết bao gồm:

  1. Phân tích bản chất các xung đột và điều hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể (Nhà nước, chính quyền địa phương, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh, cơ sở khai thác ngoài quốc doanh và người lao động).
  2. Đánh giá tính hai mặt giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ngành than với bảo vệ môi trường trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
  3. Đánh giá toàn diện thực trạng bảo vệ môi trường tại Quảng Ninh giai đoạn 2001–2015 gắn với các tiêu chí kinh tế chính trị và đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể, khả thi cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) và khai thác tài nguyên (Luật Khoáng sản năm 2010).

Dưới lăng kính kinh tế chính trị học, luận án sử dụng các khái niệm và khung lý thuyết:

  • Đặc tính kinh tế thị trường của than đá: Than là nhiên liệu hóa thạch, tài nguyên không tái tạo, được coi là một loại "hàng hóa đặc biệt". Hoạt động khai thác than mang tính độc quyền tự nhiên nhất định, vận động theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu và chịu sự điều tiết của Nhà nước.
  • Lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích giữa các chủ thể: Phân tích cơ cấu lợi ích đa tầng bao gồm: Nhà nước (thu thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia); chính quyền địa phương (hưởng nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường, thuế điều tiết để đầu tư hạ tầng và khắc phục suy thoái sinh thái); doanh nghiệp khai thác/TKV (tối đa hóa lợi nhuận, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị phần); doanh nghiệp ngoài chính quy và người lao động (tiền lương, thưởng, bảo đảm an toàn và sức khỏe lao động).
  • Phương thức khai thác than: Phân biệt quy trình công nghệ và mức độ tác động môi trường giữa khai thác than lộ thiên (khoan, bốc xúc đất đá, vận chuyển, đổ thải, chiếm dụng diện tích mặt bằng lớn) và khai thác than hầm lò (đào lò, chống đỡ lò, nổ mìn, thoát nước ngầm, xử lý khí mỏ).
  • Các nhóm tiêu chí đánh giá bảo vệ môi trường: (1) Tiêu chí về sự phù hợp giữa quy hoạch khai thác than và quy hoạch bảo vệ môi trường; (2) Tiêu chí đảm bảo hài hòa giữa hiệu quả kinh tế với mục tiêu bảo vệ môi trường; (3) Tiêu chí tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (TCMTVN).

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Gạt bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, bề ngoài để rút ra bản chất các mối quan hệ kinh tế - môi trường trong khai thác mỏ.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Thu thập, phân loại các luồng tài liệu học thuật và dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý để hình thành khung phân tích lý thuyết và thực tiễn.
  • Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Khảo sát tiến trình phát triển của ngành than Quảng Ninh qua các mốc thời gian gắn liền với bối cảnh thể chế kinh tế của đất nước.
  • Phương pháp thống kê và so sánh: Đối chiếu dữ liệu môi trường và kết quả bảo vệ môi trường qua các giai đoạn 2001–2005, 2006–2010, 2011–2015; so sánh mức độ ô nhiễm tại vùng mỏ với các tiêu chuẩn môi trường cho phép.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Rút ra các kết luận từ việc thực thi chính sách quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Nguồn dữ liệu của luận án là thông tin thứ cấp được thu thập từ: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê; báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh; các đề án, quy hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh; các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và báo cáo tổng kết của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV); các số liệu nghiên cứu của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và phương pháp nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường ngành than, phân định theo ba nhóm nội dung lớn. Tác giả tổng kết 6 kết quả nghiên cứu đã đạt được trong y văn và chỉ rõ các "khoảng trống" lý luận, thực tiễn cần bổ khuyết. Phần phương pháp luận luận giải 4 cách tiếp cận nghiên cứu: tiếp cận đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị; tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực; tiếp cận từ lý luận đến thực tiễn; tiếp cận định tính kết hợp định lượng theo hướng bền vững. Trên cơ sở đó, chương trình bày chi tiết quy trình 6 bước thực hiện đề tài và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành kinh tế chính trị được vận dụng xuyên suốt luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ môi trường trong khai thác than

Chương 2 luận giải các khái niệm cốt lõi: than đá, vai trò kinh tế - chính trị của tài nguyên than, quy trình công nghệ khai thác lộ thiên và hầm lò. Tác giả phân tích tính đặc thù của ngành mỏ: quy mô chiếm đất lớn, di dời khối lượng đất đá khổng lồ, tính độc hại của môi trường lao động. Theo thống kê y tế của PGS.TS Khúc Xuyên được luận án trích dẫn, tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở công nhân mỏ than rất đáng kể: bệnh tai mũi họng chiếm 69,50%, bệnh ngoài da 34,30%, bệnh hô hấp 32,00%, bệnh thần kinh 26,30%, bệnh tiêu hóa 13,80%, bệnh xương khớp 12,60%.

Chương này đi sâu mổ xẻ đặc tính kinh tế thị trường của than và bản chất xung đột lợi ích giữa các nhóm chủ thể tham gia hoạt động khoáng sản. Luận án phân định 4 nội dung cơ bản của công tác bảo vệ môi trường trong ngành than: (1) Lập quy hoạch vùng khai thác và thực hiện nghiêm ngặt đánh giá tác động môi trường (ĐTM); (2) Đổi mới và ứng dụng công nghệ khai thác tiên tiến, công nghệ sạch (như công nghệ khai thác than bằng nước tuần hoàn); (3) Thực hiện cải tạo, hoàn nguyên môi trường các bãi thải; (4) Ngăn ngừa sự cố, kiểm soát ô nhiễm và chấm dứt khai thác than trái phép. Bên cạnh đó, tác giả phân tích kinh nghiệm quản trị môi trường mỏ của các quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học cho Việt Nam về hoàn thiện thể chế pháp lý, sử dụng công cụ thuế - phí môi trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khai khoáng.

Chương 3: Thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh

Chương 3 tập trung khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh và đo lường các tác động tiêu cực của khai thác than giai đoạn 2001–2015 tại 4 khu vực trọng điểm: Cẩm Phả, Hòn Gai, Uông Bí và Đông Triều. Các biểu hiện suy thoái môi trường cụ thể bao gồm:

  • Biến dạng địa mạo và đổ thải: Hoạt động khai thác lộ thiên đã bóc dỡ và đổ thải hàng tỷ mét khối đất đá, tạo nên các bãi thải khổng lồ (như Đông Nam Đèo Nai, Tây Nam Cọc Sáu), làm bồi lấp hệ thống thoát nước tự nhiên và gia tăng nguy cơ sạt lở vào mùa mưa bão.
  • Ô nhiễm nguồn nước: Hoạt động tháo khô mỏ và nước mưa chảy tràn qua khai trường cuốn theo kim loại nặng, bùn cát, dầu mỡ, làm gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng, làm suy giảm chất lượng nước mặt và làm suy thoái, hạ thấp mực nước ngầm.
  • Ô nhiễm không khí và tiếng ồn: Bụi phát sinh từ các khâu nổ mìn, bốc xúc, vận chuyển than, chế biến tại sàng tuyển Hòn Gai, Cửa Ông và các mỏ Hà Tu, Núi Béo, Cao Thắng, Tân Lập, Mạo Khê, Hồng Thái. Nồng độ bụi đo được tại nhiều điểm vượt ngưỡng cho phép. Tiếng ồn từ máy móc cơ giới nặng và hoạt động nổ mìn duy trì ở mức 80–100 dBA, vượt quá tiêu chuẩn cho phép (75 dBA).

Dưới đây là bảng tổng hợp các nội dung dữ liệu quan sát và đo lường thực trạng môi trường được trình bày trong Chương 3 của luận án:

STT Bảng thống kê trong luận án Nội dung dữ liệu phản ánh trong văn bản
1 Bảng 3.1 (trang 76) Tổng khối lượng đất đá đổ thải của các mỏ than lộ thiên theo từng khu vực và giai đoạn
2 Bảng 3.2 (trang 80) Thống kê lượng nước thải ngành than (khối lượng nước thải mỏ phát sinh, tỷ lệ qua trạm xử lý sơ bộ, xử lý triệt để và chưa qua xử lý)
3 Bảng 3.3 (trang 83) Nồng độ bụi trong quá trình khai thác than tại một số khu vực trọng điểm (Mạo Khê, Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả)
4 Bảng 3.4 (trang 89) Thay đổi diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh những năm qua
5 Bảng 3.5 (trang 101) Diện tích trồng rừng mới, hoàn nguyên phủ xanh của tỉnh Quảng Ninh

Đánh giá công tác bảo vệ môi trường, luận án ghi nhận những kết quả tích cực: Tập đoàn TKV và tỉnh Quảng Ninh đã bước đầu lập quy hoạch môi trường, xây dựng các trạm xử lý nước thải mỏ tập trung, lắp đặt hệ thống băng tải than kín thay thế ô tô vận chuyển trên đường quốc lộ, triển khai phủ xanh một phần các bãi thải kết thúc khai thác. Tuy nhiên, các hạn chế còn tồn tại gồm: tiến độ hoàn nguyên bãi thải còn chậm so với tốc độ bóc đất đá; công nghệ khai thác tại một số mỏ hầm lò còn lạc hậu; việc kiểm soát các hoạt động tận thu, khai thác than trái phép từng có giai đoạn buông lỏng; nguồn lực tài chính đầu tư cho công trình môi trường chưa tương xứng với quy mô phát thải.

Chương 4: Mục tiêu, quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh trong thời gian đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025

Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển mới của ngành than gắn với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh từ "nâu" sang "xanh". Tác giả dự báo áp lực môi trường qua Bảng 4.1 (trang 133) về tổng khối lượng đất đá đổ thải dự kiến của các mỏ than lộ thiên theo từng khu vực và giai đoạn phát triển tiếp theo.

Luận án xác lập hệ thống mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và đề xuất 5 nhóm giải pháp cơ bản:

  1. Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác than: Hoàn thiện khung khổ pháp lý, nâng cao hiệu lực kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm; quản lý chặt chẽ nguồn thu và sử dụng hiệu quả phí bảo vệ môi trường, tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường.
  2. Đổi mới công nghệ, cải tiến thiết bị khai thác than nhằm tăng năng suất lao động và bảo vệ môi trường: Hiện đại hóa công nghệ khai thác hầm lò cơ giới hóa đồng bộ; chuyển đổi từ khai thác lộ thiên sang khai thác hầm lò nhằm giảm thiểu diện tích chiếm đất và khối lượng đất đá thải; cải tiến thiết bị sàng tuyển, vận tải bằng băng tải kín hoặc đường sắt chuyên dùng.
  3. Xây dựng phương án bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản - than: Lập kế hoạch quản lý môi trường tích hợp từ khâu quy hoạch mở mỏ, vận hành đến đóng cửa mỏ; thực hiện nghiêm ngặt quy trình ĐTM cho từng dự án khai thác than.
  4. Thực hiện các biện pháp hoàn nguyên môi trường sau khai thác than: Cắt tầng, giảm độ dốc bãi thải đất đá; cải tạo đất mặt và triển khai phủ xanh bãi thải bằng các loại cây trồng phù hợp; cải tạo các moong khai thác than lộ thiên đã dừng hoạt động thành hồ chứa nước ngọt phục vụ dân sinh hoặc hồ cảnh quan sinh thái.
  5. Nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp ngành than trong bảo vệ môi trường: Giáo dục nâng cao nhận thức sinh thái cho cán bộ quản lý và công nhân mỏ; thực hiện công khai thông tin quan trắc môi trường cho cộng đồng dân cư giám sát; gắn trách nhiệm xã hội và tiêu chí bảo vệ môi trường vào đánh giá kết quả kinh doanh của các đơn vị thành viên TKV.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án công bố 4 đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  1. Luận án đưa ra luận điểm bảo vệ môi trường trong khai thác than không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn là nhân tố ảnh hưởng mang tính quyết định đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh môi trường bền vững của địa phương và quốc gia.
  2. Luận án khẳng định khai thác hợp lý tài nguyên khoáng sản than kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường là một bộ phận hữu cơ cấu thành chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh, hỗ trợ mục tiêu chuyển đổi phương thức phát triển từ phụ thuộc tài nguyên sang dịch vụ - du lịch.
  3. Đánh giá một cách khách quan, hệ thống thực trạng, hậu quả của ô nhiễm môi trường do khai thác than gây ra đối với nguồn nước, không khí, đất rừng và sức khỏe dân cư, đồng thời ghi nhận những kết quả đã đạt được trong công tác bảo vệ môi trường ngành than tại Quảng Ninh giai đoạn 2001–2015.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện và khả thi nhằm gắn kết bảo vệ môi trường với khai thác than ở Quảng Ninh cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025; trong đó nhấn mạnh định hướng kinh tế xanh, hoàn nguyên môi trường sau khai thác, cân đối hài hòa giữa lợi ích kinh tế của doanh nghiệp với lợi ích của cộng đồng xã hội và đổi mới tư duy quản lý của các đơn vị sản xuất kinh doanh than.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh với nguồn số liệu thống kê thứ cấp đến năm 2015 (cập nhật bổ sung năm 2016). Do tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, luận án tập trung phân tích các quan hệ kinh tế, cơ chế quản lý và chính sách phát triển, không đi sâu vào tính toán kỹ thuật xử lý chất thải chi tiết hay thực hiện các thí nghiệm hóa lý tại hiện trường.

Từ phạm vi nghiên cứu trên, các hướng nghiên cứu có thể tiếp tục mở rộng bao gồm:

  • Cập nhật và đánh giá biến động các chỉ số môi trường vùng mỏ than Quảng Ninh sau năm 2015 khi các mỏ lộ thiên lớn chuyển dần diện khai thác xuống sâu hoặc kết thúc để chuyển sang khai thác hầm lò.
  • Đo lường định lượng chi tiết giá trị thiệt hại kinh tế do suy thoái môi trường và chi phí sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh các khu mỏ than.
  • Nghiên cứu so sánh cơ chế chia sẻ lợi ích từ hoạt động khai khoáng giữa các vùng than khác tại Việt Nam (như bể than đồng bằng sông Hồng khi đưa vào khai thác thử nghiệm).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung phân tích kinh tế chính trị về mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên không tái tạo với bảo vệ môi trường và giải quyết xung đột lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, UBND tỉnh Quảng Ninh): Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát quy hoạch khai thác khoáng sản gắn với quy hoạch bảo vệ môi trường địa phương; hoàn thiện cơ chế điều tiết thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và quản lý quỹ phục hồi môi trường mỏ.
  • Lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV): Tham khảo hệ thống giải pháp tổ chức sản xuất, lộ trình chuyển đổi công nghệ, quy trình ĐTM và các biện pháp kỹ thuật - sinh học hoàn nguyên bãi thải đất đá.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo văn bản luận án, trữ lượng than đá tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh được xác định là bao nhiêu và chiếm tỷ lệ như thế nào so với cả nước? Theo số liệu tính toán của Tổng cục Địa chất năm 1994 được tác giả trích dẫn ở phần Mở đầu, trữ lượng than tự nhiên của Quảng Ninh ước tính khoảng 12 tỷ tấn, trong đó tổng trữ lượng đã thăm dò, tìm kiếm và khai thác là 3,633 tỷ tấn. Sản lượng khai thác than tại Quảng Ninh chiếm tới 90% tổng sản lượng than của cả nước.

2. Những dạng ô nhiễm môi trường chính do khai thác than gây ra tại Quảng Ninh được luận án chỉ ra là gì? Văn bản luận án phân tích 3 dạng tác động chính: (1) Làm biến dạng địa mạo và cảnh quan khu vực, chiếm dụng đất trồng trọt và rừng, hình thành các bãi thải đất đá cao gây nguy cơ sạt lở và bồi lấp; (2) Ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm do nước tháo mỏ mang hàm lượng chất rắn lơ lửng, kim loại nặng, muối hòa tan và dầu mỡ; (3) Ô nhiễm không khí và tiếng ồn do bụi phát sinh từ các khâu nổ mìn, bốc xúc, vận chuyển, sàng tuyển cùng độ ồn vượt tiêu chuẩn cho phép (dao động 80–100 dBA).

3. Các bệnh thường gặp nhất ở công nhân khai thác than hầm lò theo số liệu y tế được luận án trích dẫn là những bệnh nào? Theo số liệu của PGS.TS Khúc Xuyên được trích dẫn ở Chương 2 của luận án, tỷ lệ mắc các bệnh phổ biến của công nhân làm việc trong hầm lò gồm: bệnh tai mũi họng chiếm tỷ lệ cao nhất với 69,50%; tiếp đến là bệnh ngoài da 34,30%; bệnh đường hô hấp 32,00%; bệnh thần kinh 26,30%; bệnh đường tiêu hóa 13,80%; và bệnh xương khớp chiếm 12,60%.

4. Luận án phân tích lợi ích kinh tế của các chủ thể nào tham gia vào hoạt động khai thác than? Luận án chỉ rõ cơ cấu gồm 5 nhóm chủ thể: (1) Nhà nước (đại diện sở hữu toàn dân, thu thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác và bảo đảm an ninh năng lượng); (2) Chính quyền địa phương nơi có mỏ (hưởng phí bảo vệ môi trường để tái thiết hạ tầng và sinh thái); (3) Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các đơn vị thành viên (hướng tới lợi nhuận sản xuất kinh doanh); (4) Doanh nghiệp ngoài chính quy và công ty liên doanh (như Vietmindo Energia Fmua); (5) Người lao động ngành than (hưởng tiền lương, phụ cấp độc hại, bảo hiểm và an toàn lao động).

5. Hoàn nguyên môi trường trong khai thác than được hiểu như thế nào theo luận án? Theo luận án, hoàn nguyên môi trường (hay cải tạo, phục hồi môi trường) là hoạt động đưa hệ sinh thái (đất, nước, không khí, cảnh quan, thảm thực vật) tại khu vực khai trường và bãi thải về trạng thái gần với nguyên trạng ban đầu hoặc đạt các quy chuẩn, tiêu chuẩn an toàn môi trường phục vụ mục đích có lợi cho con người (như cải tạo thành khu du lịch, công viên, hồ chứa nước sinh thái), trong đó trọng tâm là các biện pháp cắt tầng, giảm độ dốc bãi thải và tái phủ xanh bằng cây cỏ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Huệ đã tiếp cận vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh dưới góc độ kinh tế chính trị, làm rõ bản chất mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế ngành mỏ với an ninh sinh thái. Công trình đã phân tích thực trạng ô nhiễm môi trường giai đoạn 2001–2015 dựa trên các dữ liệu về đất đá thải, nước tháo mỏ, nồng độ bụi và sức khỏe người lao động, đồng thời chỉ ra các xung đột lợi ích giữa các bên liên quan trong nền kinh tế thị trường. Hệ thống giải pháp đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2025 cung cấp các căn cứ khoa học có giá trị đối với công tác quản lý nhà nước tại địa phương và chiến lược phát triển bền vững của ngành than Việt Nam.