Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài; Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ môi trường trong khai thác than; Chương 3: Thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh thời gian 2001-2015; Chương 4: Những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh, giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến 2025. Danh mục tài liệu tham khảo. z 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.
Các nghiên cứu về vấn đề môi trƣờng và khai thác than Vấn đề môi trường và BVMT nói chung, BVMT trong hoạt động khoáng sản than nói riêng được nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học và cán bộ hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu. Tác giả luận án tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án theo ba nhóm vấn đề dưới đây: (1) Các nghiên cứu về môi trường và BVMT nói chung. (2) Những nghiên cứu về KTKS (có khai thác than) và vấn đề môi trường. (3) Khai thác than và vấn đề BVMT.
Dưới đây là những nội dung chính, cụ thể: 1. Các nghiên cứu về môi trường và bảo vệ môi trường nói chung Một là, các nghiên cứu về khái niệm, chức năng và vai trò của môi trường. Tiêu biểu cho nghiên cứu vấn đề này có công trình: - Lê Huy Bá (2002), Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. - Trần Văn Chử (2004), Tài nguyên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Bộ Công thương (2010), Doanh nghiệp Việt Nam và những vấn đề môi trường, Nxb Công thương, Hà Nội. - Nguyễn Thế Chinh (Chủ biên, 2003), Kinh tế và quản lý môi trường, Nxb Thống kê, Hà Nội. - Nguyễn Đức Lợi, Phạm Văn Nhật (Đồng chủ biên, 2013), Kinh tế môi trường, Nxb Tài chính, Hà Nội. Các công trình khoa học nêu trên ít, nhiều đã luận giải khá rõ về khái niệm, chức năng và vai trò của môi trường.
Về cơ bản, các tác giả đều thống nhất cho rằng: z 6 * Về khái niệm môi trường: Môi trường thường được nói đến là môi trường tự nhiên, là một phần của thế giới tự nhiên mà được coi là có giá trị hay quan trọng đối với loài người vì bất kỳ lý do nào. Môi trường tự nhiên bao gồm: tất cả các thảm thực vật, vi sinh vật, đất đá, không khí và các hiện tượng tự nhiên; tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển. Tài nguyên thiên nhiên có loại không tái sinh, ví như TNKS; có loại tái sinh, chẳng hạn tài nguyên rừng, đất và nông nghiệp,. và các hiện tượng vật lý mà không có ranh giới rõ ràng, chẳng hạn như: không khí, nước, khí hậu, bức xạ, năng lượng, điện tích và từ tính, không có nguồn gốc từ hoạt động của con người.
* Chức năng của môi trường: - Là không gian sống của con người và sinh vật. - Là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người. Tất cả các loại tài nguyên đều do môi trường cung cấp và giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếm và giá trị của nó trong xã hội. - Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường.
Tuy nhiên, chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn. - Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất. - Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. * Vai trò của môi trường: Thứ nhất, môi trường không chỉ cung cấp "đầu vào" mà còn chứa đựng "đầu ra" cho các quá trình sản xuất và đời sống.
Các yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm: đất, nước, không khí. sinh vật và các yếu tố vật chất khác là đầu vào của sản xuất và đời sống. Môi trường tự nhiên lại là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của các quá trình sản xuất và đời sống. Quá trình sản xuất thải ra môi trường nhiều chất thải (khí thải, nước thải, chất thải rắn).
Trong các chất thải này có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái hoặc gây ra sự cố môi trường. Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người z 7 cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải. Những chất thải này nếu không được xử lý tốt đúng quy trình kỹ thuật thì cũng sẽ gây ONMT nghiêm trọng. Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự PTKT-XH.
Phát triển KT-XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của toàn nhân loại trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ. Môi trường là địa bàn và là đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ONMT tự nhiên hay nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự PTKT-XH thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên - đối tượng của sự PTKT-XH hoặc gây ra thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động KT-XH trong khu vực. Hai là, các nghiên cứu về ONMT, BVMT và phát triển bền vững. Những nghiên cứu về vấn đề này có rất nhiều, trong đó có các công trình khoa học in thành sách dưới đây: - Trần Thanh Bình (2006), Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường: Một số vấn đề lý luận thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Kim Thái (2003), Sinh thái học và Bảo vệ môi trường, Nxb Xây dựng, Hà Nội. - Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (Đồng chủ biên, 2009), Vượt qua thách thức mở thời cơ phát triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Trần Văn Chử (2004), Tài nguyên tài nguyên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Lê Huy Bá (2002), Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật.
z 8 Các công trình nghiên cứu vấn đề này được công bố trên các tạp chí: Chu Văn Cấp - Nguyễn Đức Hà (12-2013), ''Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam nhìn từ khía cạnh chính sách phát triển'', Tạp chí Kinh tế và Quản lý, (8); Nguyễn Thế Chinh (2009), "Chính sách quản lý môi trường dựa trên việc sử dụng công cụ kinh tế"; Nguyễn Thế Chinh (2013), "Kinh nghiệm quốc tế trong công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường"; Chu Văn Cấp (2012), ''Phát triển xanh - phát triển bền vững trong chiến lược phát triển KT-XH của Việt Nam, giai đoạn 2011 - 2020'', Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 4 (14), tháng 5, 6 (2012); Chu Văn Cấp - Nguyễn Thị Minh Tân (2012), ''Phát triển xanh xu hướng tất yếu của thế giới trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và môi trường sinh thái toàn cầu'', Tạp chí Khoa học chính trị, (5)/2012; Nguyễn Thế Chinh (25-10-2014), ''Sự chuyển đổi tích cực phương thức phát triển từ "nâu" sang "xanh"'', Hồ sơ sự kiện, chuyên san của Tạp chí Cộng sản, (289), tr.12-14; Trương Quang Học (2011), ''Phát triển bền vững - Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ 21'', Bài phát biểu ở Hội nghị khoa học về phát triển bền vững; Vũ Thành Hưởng (2011), ''Thực trạng và giải pháp cơ bản cho phát triển bền vững ở Việt Nam đến năm 2020'', Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (172)/II, tháng 10; Trương Mạnh Tiến (2002), ''Tăng cường hoạt động QLNN về BVMT'', Tạp chí Quản lý nhà nước, (11)… Các công trình nghiên cứu nêu trên, đều cho rằng: Bảo vệ môi trường là những hành động có ý thức nhằm giữ gìn và ổn định môi trường trong sự PTBV và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo khoản 3 điều 3 luật BVMT (2014) của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ''Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành". Để BVMT, theo điều 7 Luật BVMT ở Việt Nam nghiêm cấm các hành vi: … KTKS một cách bừa bãi, gây hủy hoại môi trường làm mất cân bằng sinh thái. Thải khói, bụi, khí độc vào không khí, phát phóng xạ, bức xạ quá mức cho phép vào môi trường xung quanh; thải dầu, mỡ, chất độc hại… chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép…; nhập khẩu thiết bị, công nghệ không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, nhập khẩu, xuất khẩu chất thải… z 9 Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân.
Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm BVMT, thi hành pháp luật về BVMT, đồng thời có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật BVMT. Việc nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp để hạn chế sự suy giảm ONMT ngày càng trở lên cấp bách hơn đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng và toàn thế giới nói chung. Khái niệm PTBV ban đầu được đưa ra chủ yếu từ mối quan hệ trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên, sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thuật ngữ "PTBV" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (Công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung đơn giản "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới PTKT mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái".
Theo Tổ chức Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) "PTBV là loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường.