Tổng quan nghiên cứu
Quảng Ninh là trung tâm công nghiệp khai khoáng trọng điểm của cả nước, sở hữu khoảng 67% tổng trữ lượng than toàn quốc với diện tích tự nhiên đạt 8.239 km2 và đường bờ biển trải dài trên 250 km. Trong lịch sử hơn 120 năm hình thành và phát triển của ngành than, tổng sản lượng than sạch khai thác lũy kế đã vượt mốc 300 triệu tấn, đóng vai trò nền tảng cung cấp nhiên liệu đầu vào cho các ngành then chốt như điện lực, xi măng, luyện thép và hóa chất. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng công suất nhanh chóng từ mức 6 triệu tấn năm 1994 lên 45 triệu tấn than sạch vào năm 2011 đã tạo ra xung đột gay gắt giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu bảo tồn môi trường sinh thái và di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào mâu thuẫn giữa khai thác tài nguyên cạn kiệt và sự suy thoái nghiêm trọng của hệ sinh thái tự nhiên tại địa phương. Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác than gắn với bảo vệ môi trường, từ đó xác lập hệ thống giải pháp quản lý kinh tế môi trường chuẩn mực, cân bằng lợi ích phát triển và gìn giữ tài nguyên.
Phạm vi nghiên cứu bao quát địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong tiến trình công nghiệp hóa từ những năm 1970 đến 2013 và định hướng chiến lược đến năm 2030. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn thông qua việc thiết lập các metrics đo lường hiệu quả quản lý, bao gồm tỷ lệ tổn thất than, khối lượng đất đá bóc thải trên mỗi tấn than nguyên khai và tỷ lệ che phủ rừng tại các khu vực mỏ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển bền vững với trọng tâm là sự dung hòa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái tự nhiên. Hoạt động khai khoáng không thể vận hành đơn lẻ mà phải đặt trong chu trình chuyển dịch vật chất và năng lượng khép kín. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết kinh tế tài nguyên môi trường nhằm giải quyết thất bại thị trường trong việc nội hóa các chi phí ngoại ứng tiêu cực vào giá thành sản phẩm than.
Mô hình nghiên cứu quản lý nhà nước được cấu trúc dựa trên bốn chức năng cốt lõi: hoạch định chiến lược chính sách, tổ chức bộ máy thực thi, lãnh đạo điều hành liên ngành và kiểm tra giám sát tuân thủ. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa theo hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm khái niệm tài nguyên khoáng sản theo Luật Khoáng sản năm 2010 ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2010, khái niệm thành phần môi trường và ô nhiễm môi trường theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 sửa đổi năm 2010, cùng các quy định xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định số 175/CP và Nghị định số 26/CP.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các báo cáo quan trắc định kỳ của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, dữ liệu kỹ thuật của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cùng chuỗi số liệu thống kê liên tục trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2013. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 50 mỏ than trọng điểm đang vận hành trên địa bàn, trong đó có 30 mỏ khai thác lộ thiên và 20 mỏ khai thác hầm lò với quy mô công suất dao động từ 1 triệu đến trên 3 triệu tấn than nguyên khai mỗi năm.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả hai phương thức khai thác chủ đạo tại ba vùng trọng điểm: Hòn Gai, Cẩm Phả và Uông Bí. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích hệ thống, thống kê mô tả, phân tích định lượng chi phí tổn thất tài nguyên và phương pháp so sánh đối chiếu đa chiều. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ bản chất đa ngành của công tác quản lý kinh tế môi trường, giúp bóc tách chính xác mối quan hệ nhân quả giữa tốc độ tăng sản lượng khai thác với sự sụt giảm chất lượng các thành phần môi trường đất, nước và không khí qua từng thời kỳ lịch sử.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, sản lượng khai thác than sạch có bước nhảy vọt cơ học gấp 7,5 lần, tăng trưởng từ 6 triệu tấn năm 1994 lên 45 triệu tấn năm 2011. Riêng giai đoạn từ năm 1995 đến 2001, toàn ngành đã khai thác gần 228 triệu tấn than sạch và đào mới 1.041 km đường lò, tạo đóng góp ngân sách vượt bậc cho địa phương và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Thứ hai, áp lực chất thải từ hoạt động khai khoáng lên môi trường tự nhiên gia tăng theo cấp số nhân. Trung bình mỗi năm, ngành than tại Quảng Ninh phải bóc và đổ thải trên 50 triệu m3 đất đá, sử dụng trên 160.000 m3 gỗ chống lò, khoảng 15.000 tấn thuốc nổ cùng hàng chục ngàn tấn nhiên liệu xăng dầu. Trong giai đoạn 1995 - 2001, tổng lượng đất đá đổ thải đã tích tụ lên tới 795 triệu m3 trên hàng trăm hecta bãi thải ngoài có độ cao hàng trăm mét.
Thứ ba, sự suy giảm nghiêm trọng thảm thực vật và độ che phủ rừng tại các khu vực mỏ. Tại khu vực phía nam đường 18A thuộc địa bàn Hòn Gai - Cẩm Phả, hoạt động khai trường và đổ thải đã làm mất khoảng 2.900 ha rừng giai đoạn 1970 - 1997 với tốc độ mất rừng bình quân từ 100 đến 110 ha mỗi năm. Độ che phủ rừng tự nhiên sụt giảm nghiêm trọng từ 33,7% năm 1970 xuống còn 6,7% năm 1985, tiếp tục giảm xuống 4,7% năm 1997 và chỉ còn vỏn vẹn 3,4% vào năm 2010.
Thứ tư, mật độ tập trung khai thác quá mức tại các đô thị hạt nhân. Khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả tập trung 30 mỏ than lộ thiên và hầm lò hoạt động đan xen với tổng diện tích khai trường 175 km2, chiếm tới 28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả, bình quân cứ 2.000 ha đất lại có 1 mỏ than vận hành, gây ra nguy cơ ô nhiễm bụi lơ lửng và xói lở bãi thải nghiêm trọng.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm môi trường kéo dài xuất phát từ việc công nghệ khai thác lộ thiên còn phụ thuộc nặng nề vào nổ mìn dây chuyền và vận chuyển bằng ô tô trọng tải từ 15 đến 95 tấn trên các tuyến đường hở, gây phát tán bụi và khí độc trên diện rộng. Hơn nữa, cơ chế quản lý kinh tế môi trường chưa hoàn thiện khi giá thành sản phẩm than chưa kết tinh đầy đủ chi phí hoàn nguyên sinh thái và chi phí xử lý nước thải mỏ có tính axit cao.
Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối tương quan nghịch đảo rõ rệt khi được trực quan hóa qua biểu đồ đường kết hợp: trong khi đường sản lượng than khai thác tăng dốc đứng từ 6 triệu tấn lên 45 triệu tấn thì đường tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên lại lao dốc từ 33,7% xuống đáy 3,4%. Bảng cân đối vật chất cũng chỉ ra rằng để thu được 1 tấn than sạch, hệ số bóc đất đá và tiêu hao gỗ lò đã tạo ra lượng chất thải rắn gấp hàng chục lần so với các ngành công nghiệp chế tạo khác.
So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây về kinh tế sinh thái mỏ của các chuyên gia trong ngành, luận văn đã làm rõ thêm rằng rào cản lớn nhất không chỉ nằm ở công nghệ mà nằm ở sự phân cấp quản lý thiếu đồng bộ giữa cơ quan trung ương, chính quyền địa phương tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn Than - Khoáng sản, khiến các biện pháp kiểm soát ô nhiễm thường mang tính đối phó, thiếu chế tài kinh tế đủ sức răn đe.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế kinh tế và chính sách quản lý tài nguyên. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường cần xây dựng khung định mức hạch toán đầy đủ chi phí suy thoái môi trường vào giá thành than. Tăng tỷ lệ trích nộp quỹ bảo vệ môi trường và ký quỹ phục hồi môi trường từ mức tượng trưng lên tương đương 5% đến 7% tổng doanh thu khai thác hàng năm, áp dụng lộ trình hoàn thành khung pháp lý trước năm 2018.
Thứ hai, đẩy mạnh đổi mới công nghệ khai thác và chế biến sạch. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam phải chủ động thay thế dần các dòng máy khoan xoay đập cũ kỹ bằng công nghệ khoan thủy lực hiện đại, đồng thời nâng cấp hệ thống xúc bốc dung tích gầu từ 1,2 m3 lên chuẩn 8 m3 đến 12 m3. Lắp đặt hệ thống băng tải kín và tuyến vận tải đường sắt chuyên dụng thay thế cho xe tải tự đổ tại 100% tuyến đường vận chuyển than ra cảng nhằm giảm thiểu trên 80% bụi phát tán vào năm 2020.
Thứ ba, thực hiện chương trình phục hồi môi trường và phủ xanh bãi thải mỏ. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cùng các đơn vị mỏ triển khai quy hoạch cải tạo bãi thải ngoài bằng các tầng bậc chống sạt lở kết hợp trồng các loài cây bản địa như keo, thông nhựa, bạch đàn. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ che phủ thảm thực vật tại các khai trường đóng cửa mỏ đạt mức trên 25% vào năm 2025 và tiệm cận 40% vào năm 2030.
Thứ tư, nâng cao năng lực giám sát và kiểm tra liên ngành. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh thiết lập mạng lưới quan trắc tự động liên tục 24/7 đối với chất lượng nước thải mỏ và bụi không khí tại tất cả 50 mỏ than trên địa bàn. Áp dụng chế tài đình chỉ khai thác đối với các mỏ không đạt quy chuẩn môi trường, hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa tài nguyên khoáng sản trong giai đoạn 2016 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh sẽ tìm thấy trong luận văn các luận cứ khoa học sắc bén để điều chỉnh quy hoạch phân vùng khai thác than, cân bằng giữa phát triển công nghiệp với bảo tồn quần thể di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long.
Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và ban điều hành tại các công ty khai thác mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam có thể ứng dụng các mô hình tổ chức sản xuất tiên tiến, tối ưu hóa cung đường vận chuyển đất đá và lập dự toán ngân sách phục hồi môi trường chính xác trong chiến lược kinh doanh dài hạn.
Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế tài nguyên môi trường và Kỹ thuật mỏ có thể sử dụng luận văn như một công trình tham khảo chuẩn mực với chuỗi số liệu định lượng phong phú về ngành than trong hơn 40 năm.
Nhóm các tổ chức hợp tác quốc tế và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phát triển bền vững như JICA, NEDO hoặc UNDP có thể khai thác tư liệu thực tế này để thiết kế các chương trình tài trợ kỹ thuật chuyển giao công nghệ sản xuất sạch hơn tại các vùng công nghiệp khai khoáng.
Câu hỏi thường gặp
Trữ lượng và vị thế than đá tại Quảng Ninh đóng vai trò then chốt như thế nào đối với nền kinh tế quốc gia? Quảng Ninh chiếm khoảng 67% tổng trữ lượng than toàn quốc, chủ yếu là than antraxit nhiệt lượng cao. Với sản lượng than sạch đạt 45 triệu tấn vào năm 2011, địa phương đóng vai trò trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng cho hệ thống nhiệt điện, sản xuất xi măng và luyện kim cả nước.
Tác động tiêu cực của việc khai thác than đối với tài nguyên rừng tại Quảng Ninh diễn ra ở mức độ nào? Trong giai đoạn 1970 - 1997, hoạt động mở vỉa và đổ đất đá thải tại khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả đã phá hủy khoảng 2.900 ha rừng, khiến độ che phủ rừng tự nhiên giảm mạnh từ 33,7% năm 1970 xuống mức báo động chỉ còn 3,4% vào năm 2010.
Đặc trưng công nghệ khai thác than lộ thiên tại Quảng Ninh hiện nay bao gồm những khâu chủ yếu nào? Quy trình lộ thiên được cơ giới hóa qua các khâu: khoan nổ mìn tạo lỗ đường kính 90 - 250mm bằng máy CBIII-250, xúc bốc bằng máy xúc dung tích 1,2 - 8 m3, vận tải bằng ô tô 15 - 95 tấn kết hợp băng tải, và đổ thải tại các bãi thải sườn núi cao.
Đâu là nguyên nhân khiến công tác quản lý kinh tế môi trường trong ngành than chưa đạt hiệu quả tối ưu? Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế phối hợp giữa ba cấp quản lý còn chồng chéo, các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường chưa phản ánh đúng mức độ suy thoái hệ sinh thái, cùng việc thiếu hệ thống quan trắc tự động liên tục tại các cụm mỏ.
Chiến lược nào được xem là then chốt để giải quyết mâu thuẫn giữa khai khoáng và du lịch tại Quảng Ninh? Chiến lược cốt lõi là chuyển đổi mô hình từ tăng trưởng nâu sang tăng trưởng xanh, siết chặt quy hoạch ranh giới mỏ cách xa vùng đệm vịnh Hạ Long, ứng dụng vận tải than bằng băng tải kín và đẩy mạnh hoàn nguyên rừng đạt trên 25% diện tích bãi thải.
Kết luận
Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.
Thứ hai, công trình đã phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng ngành than Quảng Ninh với sản lượng tăng trưởng 7,5 lần sau 17 năm nhưng đi kèm với sự suy thoái nghiêm trọng khi độ che phủ rừng tự nhiên tại vùng mỏ sụt giảm xuống mức 3,4%.
Thứ ba, nghiên cứu đã bóc tách toàn diện các bất cập trong quản lý công nghệ, mô hình bãi thải và cơ chế tài chính môi trường tại hơn 50 mỏ than lộ thiên và hầm lò trên địa bàn tỉnh.
Thứ tư, hệ thống bốn nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất bao gồm hoàn thiện cơ chế hạch toán giá thành sinh thái, chuyển đổi công nghệ xúc vận sạch, phục hồi thảm thực vật bãi thải và tăng cường giám sát liên ngành.
Thứ năm, lộ trình thực thi được hoạch định rõ ràng theo hai giai đoạn: giai đoạn 2015 - 2020 tập trung hoàn thiện thể chế và lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, giai đoạn 2020 - 2030 hoàn tất chuyển đổi mô hình công nghiệp than xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững.
Các nhà quản lý, chuyên gia và độc giả quan tâm hãy tham khảo và ứng dụng ngay các khuyến nghị khoa học từ luận văn để chung tay kiến tạo tương lai phát triển bền vững cho vùng mỏ Quảng Ninh.