Luận Văn Thạc Sĩ Về Tội Vi Phạm Quy Định Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp Trong Luật Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích tội vi phạm quy định bảo vệ động vật quý hiếm theo luật hình sự Việt Nam, nêu rõ các vấn đề pháp lý liên quan.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ luật học

2012

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM ĐƯỢC ƯU TIÊN BẢO VỆ

1.1. Thời kì từ 1945 đến trước 1985

1.2. Thời kì từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999

1.3. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ trong Bộ luật Hình sự năm 1999

1.3.1. Bối cảnh và quan điểm lập pháp

1.3.2. Nội dung pháp lý của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm trong Bộ luật Hình sự năm 1999

1.4. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục, loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ trong luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009

1.5. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ trong pháp luật hình sự của một số quốc gia

1.5.1. So sánh với quy định của Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

1.5.2. So sánh với quy định trong pháp luật hình sự của Vương quốc Thụy Điển

1.5.3. So sánh với các quy định trong pháp luật hình sự của một số nước khác

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM ĐƯỢC ƯU TIÊN BẢO VỆ

2.1. Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong Bộ luật Hình sự

2.2. Khách thể tội phạm

2.3. Mặt khách quan của tội phạm

2.4. Chủ thể của tội phạm

2.5. Mặt chủ quan của tội phạm

2.6. Về hình phạt

2.7. Cấu thành tội phạm cơ bản

2.8. Cấu thành tăng nặng

2.9. Hình phạt bổ sung

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM ĐƯỢC ƯU TIÊN BẢO VỆ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÒNG CHỐNG CÓ HIỆU QUẢ LOẠI TỘI PHẠM NÀY

3.1. Một số nét về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ở Việt Nam

3.2. Thực trạng tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ở nước ta trong thời kì từ 2006 - 2011

3.3. Đối tượng, phương thức, thủ đoạn, tuyến, địa bàn trọng điểm

3.4. Một số kiến nghị nhằm phòng, chống có hiệu quả tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

3.5. Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự đối với tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

3.6. Nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp Theo Luật Hình Sự Việt Nam

Bảo vệ động vật nguy cấp là một trong những vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Luật hình sự Việt Nam đã có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ các loài động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm. Những quy định này không chỉ thể hiện sự quan tâm của Nhà nước mà còn phản ánh trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ đa dạng sinh học.

1.1. Định Nghĩa Động Vật Nguy Cấp Và Luật Hình Sự

Động vật nguy cấp được định nghĩa là những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao. Luật hình sự Việt Nam quy định rõ các hành vi vi phạm liên quan đến việc săn bắt, buôn bán động vật này. Điều 190 của Bộ luật Hình sự đã chỉ ra các hình phạt cụ thể cho những hành vi này.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp

Việc bảo vệ động vật nguy cấp không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân. Động vật hoang dã đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, và sự mất mát của chúng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.

II. Thách Thức Trong Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp Tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật, nhưng việc thực thi các quy định này vẫn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng buôn bán động vật hoang dã vẫn diễn ra phổ biến, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các loài động vật nguy cấp.

2.1. Thực Trạng Buôn Bán Động Vật Hoang Dã

Thực trạng buôn bán động vật hoang dã tại Việt Nam đang ở mức báo động. Nhiều loài động vật quý hiếm bị săn bắt trái phép để phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Điều này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đe dọa sự tồn tại của các loài này.

2.2. Hạn Chế Trong Công Tác Thực Thi Pháp Luật

Công tác thực thi pháp luật về bảo vệ động vật nguy cấp còn nhiều hạn chế. Thiếu nguồn lực, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, và ý thức của người dân về bảo vệ động vật hoang dã còn thấp là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

III. Phương Pháp Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp Hiệu Quả Tại Việt Nam

Để bảo vệ động vật nguy cấp, cần có những phương pháp hiệu quả và đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn. Các biện pháp này cần được triển khai một cách đồng bộ và có sự tham gia của toàn xã hội.

3.1. Tăng Cường Giáo Dục Và Nhận Thức Cộng Đồng

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ động vật nguy cấp là rất cần thiết. Các chương trình tuyên truyền, giáo dục có thể giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ động vật hoang dã.

3.2. Cải Thiện Chính Sách Pháp Luật

Cần cải thiện các quy định pháp luật hiện hành để tăng cường tính răn đe đối với các hành vi vi phạm. Việc sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan đến bảo vệ động vật nguy cấp sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp

Nghiên cứu về bảo vệ động vật nguy cấp đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc nâng cao nhận thức và thực thi pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tình Hình Bảo Vệ Động Vật

Các nghiên cứu gần đây cho thấy sự gia tăng nhận thức của cộng đồng về bảo vệ động vật nguy cấp. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm vẫn còn phổ biến, cho thấy cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn.

4.2. Các Mô Hình Bảo Vệ Động Vật Thành Công

Một số mô hình bảo vệ động vật thành công đã được triển khai tại Việt Nam, như các khu bảo tồn thiên nhiên. Những mô hình này không chỉ bảo vệ động vật mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp Tại Việt Nam

Tương lai của việc bảo vệ động vật nguy cấp tại Việt Nam phụ thuộc vào sự quyết tâm của cả xã hội. Cần có những chính sách đồng bộ và sự tham gia của mọi tầng lớp trong xã hội.

5.1. Tầm Nhìn Về Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp

Tầm nhìn về bảo vệ động vật nguy cấp cần được xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa Nhà nước, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. Sự phối hợp này sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp trong công tác bảo vệ.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp

Đề xuất các chính sách bảo vệ động vật nguy cấp cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Các chính sách này cần phải linh hoạt và phù hợp với thực tiễn địa phương để đạt được hiệu quả cao nhất.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cho những họat động lập pháp có ý nghĩa đối với việc bảo vệ môi trường là việc tạo ra một cơ sở pháp lý quan trọng tại Điều 13 Hiến pháp 1980: "Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải tạo môi trường sống" [42]. Từ quy định hiến định này, các nhà làm luật nước ta khi xây dựng Bộ luật Hình sự năm 1985 đã xây dựng một số tội danh liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có chứa đựng nội dung bảo vệ các động vật hoang dã, quý hiếm. Chính thức thực hiện việc bảo vệ môi trường bằng pháp luật hính sự. THỜI KÌ TỪ KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 Trong Bộ luật Hình sự năm 1985, các tội danh liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định tại Chương VII "Các tội phạm về kinh tế" và Chương VIII "Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính" bao gồm các điều 180, 181, 195 và 216, trong đó Điều 181 "tội 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng" có chứa đựng nội dung bảo vệ bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Có thể thấy Bộ luật Hình sự năm 1985 chưa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường nói chung và bảo vệ các động vật hoang dã nói riêng. Điều này không chỉ thể hiện qua việc Bộ luật Hình sự 1985 chưa dành riêng một Chương cho các tội phạm về môi trường, mà còn dễ dàng nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi trường được gộp lại với những tội phạm khác và được hiểu không phải với tư cách là những tội phạm về môi trường như Điều 181. Điều 181, Bộ luật Hình sự năm 1985 "Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng" quy định: 1. Người nào khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xứ lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm [38]. Nội dung điều luật gộp chung nhiều hành vi liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng, tuy nhiên cũng đã đề cập đến hành động săn bắt trái phép chim, thú, tuy nhiên dường như các nhà làm luật quan tâm đến vấn đề kinh tế nhiều hơn là quan tâm đến vấn đề bảo vệ sự tồn tại của các loài chim, thú hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học của rừng. Chính về vậy tội danh này được các nhà làm luật đặt trong chương VII, "các tội phạm về kinh tế". Mặt khác, các động vật ở đây được hiểu là các được hiểu là các loại chim muông, thú rừng nói chung chú không chỉ là các động vật nguy cấp, quý hiếm.

Nếu nhìn một cách "phiến diện" ta thấy dường như Điều 181, Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định rất nghiêm khắc đối với hành vi săn bắn chim, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thú rừng. Tuy nhiên thực chất không hoàn toàn như vậy. Việc quy định "rộng mà hẹp" như Bộ luật Hình sự năm 1985 khiến cho việc bảo vệ động vật hoang dã trên thực tế bằng luật hình sự gần như không được thực hiện. Chúng ta có thể thấy điều này qua phân tích dưới đây: - Hành vi khách quan liên quan đến việc bảo vệ động vật hoang dã của điều luật này là: hành vi săn, bắt chim muông, thú rừng không có giấy phép, không đúng quy định của nhà nước.

- Do tội có cấu thành vật chất nên phải có hậu quả nguy hiểm là làm mất giống chim, thú đang cần bảo vệ, gây ra mất cân bằng sinh thái. Nếu không chứng minh được hậu quả nghiêm trọng thì người có hành vi săn, bắt nói trên phải có dấu hiệu bắt buộc là "đã bị xử phạt hành chính" thì mới được coi là tội phạm. - Về hình phạt: Điều 181, Bộ luật Hình sự năm 1985 có khung hình phạt cao nhất đến 10 năm tù trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, Có lẽ các nhà làm luật hướng tới việc phá rừng gây hậu quả nghiêm trọng chứ không thực sự chú trọng đến các hành vi sắn, bắt chim, thú rừng trái phép. Cho đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, trong thực tế việc xử lý tội phạm này chủ yếu là các hành vi liên quan đến phá rừng, khai thác gỗ trái phép và tỉ lệ áp dụng cũng không nhiều.

Chính vì vậy, qua 4 lần sửa đổi Bộ luật Hình sự mặc dù kỹ thuật lập pháp của Điều luật này chưa thực sự hoàn thiện nhưng vẫn không được sửa đổi lần nào. Nguyên nhân có thể vì trong thực tế ít áp dụng nên không thấy được sự bất cập và kết quả là không có nhu cầu sửa đổi. Điều này cũng không khó giải thích vì mục tiêu của các nhà làm luật là quan tâm đến hậu quả kinh tế của hành vi phạm tội, trong khi thế nào là "hậu quả nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng" thì không có hướng dẫn cụ thể. Nếu vận dụng tương tự kết luận của Tòa án nhân dân tối cao đối với tội phạm về kinh tế khác là tương đương 5 tấn gạo là hậu quả nghiêm trọng thì với sự quản lý rừng lỏng lẻo trong giai đoạn này khó mà có 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể phát hiện được các hành vi phạm tội đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mặt khác, hậu quả của việc săn bắn chim, thú rừng trái phép là hậu quả vô hình, hậu quả cho tương lai. Vì vậy, nếu lấy thước đo kinh tế để xác định hành vi nào bị coi là phạm tội thì khó có thể xử lý nổi một hành vi săn, bắt chim thú rừng trai phép nào. Tuy nhiên, việc Bộ luật Hình sự năm 1985 xuất hiện quy định về bảo vệ động vật hoang dã là tiền đề cho việc quy định mộ danh riêng về bảo vệ động vật hoang dã, , quý, hiếm trong Bộ luật Hình sự năm 1999. TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CẤP, QUÝ HIẾM ĐƯỢC ƯU TIÊN BẢO VỆ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 1.

Bối cảnh và quan điểm lập pháp Nối tiếp quan điểm của Hiến pháp 1980 về bảo vệ môi trường, Hiến pháp 1992 tiếp tục quy định: "Các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi công dân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống. Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường" [42]. Đến thời điểm này, nhận thức của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường đã trở nên sâu sắc hơn. Vì vậy, nhiều chính sách về bảo vệ môi trường đã được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm nâng cao hơn một bước công tác bảo vệ môi trường.

Tiêu biểu như ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36/CT-TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại"; Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993; Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 1991; Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Nghị định số 18/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành danh mục động vật, thực vật rừng quý hiếm… Ngay trong Tờ trình Quốc hội về dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) của Chính phủ số 1218/CP-PC 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngày 19/10/1998, một trong những quan điểm được quán triệt trong quá trình soạn thảo Bộ luật là "Bảo vệ môi trường sinh thái". Những quan điểm chỉ đạo nêu trên của Đảng và Nhà nước ta đã trở thành định hướng quan trọng cho việc xây dựng các quy định về các tội phạm về môi trường trong Bộ luật Hình sự 1999. Nhà nước ta đã khẳng định một trong những nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự là: "đảm bảo cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh và mang tính nhân văn cao". Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng đã được cá thể hóa bằng 10 tội danh cụ thể và cấu tạo thành hẳn một Chương mới - Chương XVII "Các tội phạm về môi trường", từ Điều 182 đến Điều 191.

Đây là một bước tiến, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc bảo vệ môi trường bằng pháp luật hình sự ở nước ta. Đối với việc bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm, nguy cấp, mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước với vấn đề này là ngày 15/1/1994, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 121 tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora) viết tắt là Công ước CITES. Để thực thi Công ước CITES về bảo vệ động vật hoang dã trên thực tế, ngày 29/5/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 359/TTg về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã, trong đó xác định "bảo vệ đa sinh học và môi trường sinh thái, từng bước lập lại trật tự kỷ cương trong việc bảo vệ và phát triển động vật hoang dã, đặc biệt là những loài động vật quý hiếm ", đồng thời yêu cầu " mọi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật, từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự". Đây chính là các cơ sở pháp lý để trong lần pháp điển hóa quan trọng này các nhà làm luật nước ta xây dựng quy định về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm tại Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp: Luật Hình Sự Việt Nam và Các Quy Định cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các điều khoản trong luật hình sự mà còn phân tích các biện pháp bảo vệ động vật nguy cấp, giúp người đọc hiểu rõ hơn về trách nhiệm pháp lý và tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã trong bộ luật hình sự năm 2015. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về các tội danh liên quan đến việc vi phạm quy định bảo vệ động vật hoang dã, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.

Khám phá thêm các tài liệu liên quan sẽ giúp bạn nắm bắt được những khía cạnh khác nhau của luật pháp và bảo vệ động vật, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ môi trường sống tự nhiên.