Mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội khu vực nghiên cứu Chƣơng 4.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về thảm thực vật 1. Trên thế giới Nghiên cứu về thảm thực vật đƣợc triển khai từ rất sớm, nhƣng phải đến thế kỉ XVII việc nghiên cứu về thảm thực vật mới trở thành bộ môn khoa học độc lập. Ở giai đoạn này, các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc mô tả, định tên và hệ thống hóa các loài.
Tiêu biểu là công trình nghiên cứu của tác giả Ray (1963),trong cuốn “Historia plantarum”, luận bàn về nơi sinh trƣởng của thực vật, trong đó ông đã vạch rõ ảnh hƣởng của độ vĩ địa lí và độ cao so với mặt biển. Nghiên cứu về thảm thực vật tiếp tục phát triển trong thế kỉ XIX, các công trình nghiên cứu của Heer (1838), Unger (1836), Schnizlein và Frickhinger (1848), Sendtnerr (1854, 1860), Lorenz (1858), Marilaun (1863), Wirtgen (1864), Senft (1865), Goppert (1868), Gradmann (1898) và nhiều tác giả khác đã chú ý đến địa lý học thảm thực vật: điều kiện lập địa, đặc điểm địa phƣơng, thảm thực vật nguyên thủy, thảm thực vật thứ sinh, các quần thể thực vật cảnh quan (dẫn theo [50]). Grisebach (1872), Drude (1890) và Warming (1895) đã đề xuất những hệ thốngphân loại chung cho thảm thực vật thế giới. Theo ông trong 3 loại quần hệ nói trên có thể phân biệt đƣợc những loại hình quần hệ nhỏ hơn là kiểu thảm thực vật (vegetation types) (dẫn theo [112]).
Morodov (1904) [69] đã công bố công trình “Học thuyết về các kiểu rừng” phục vụ mục đích kinh doanh. Trong đó, ông trình bày những vấn đề cơ bản về sinh thái rừng. 4 Hội nghị sinh học lần thứ 3, tại Brussels, trong bản báo cáo của Flao và Srichora đã đề nghị dùng thuật ngữ Quần hợp làm đơn vị cơ sở của lớp phủ thực vật. Quần hợp là quần xã thực vật có thành phần loài xác định với sự đồng nhất về môi trƣờng, đồng nhất về ngoại mạo (dẫn theo[6]).
Champion (1936), đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt, bao gồm: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao. Cách phân biệt này hiện nay vẫn đƣợc sử dụng phổ biến (dẫn theo [98]). Theo Thái Văn Trừng (1998) [112], hệ thống phân loại của Champion là một hệ thống mang tính chất tự nhiên khá nhất vì nó dựa trên nguyên lí sinh thái và đặc biệt là kiểu thảm thực vật đƣợc xếp theo một trật tự hợp lí, làm nổi bật mối quan hệ nhân quả giữa thực vật và hoàn cảnh sống. Sennhicop (1941, 1964) [84] đƣa ra quan điểm phân loại rừng theo nơi sống và quần xã thực vật, trên đó có các kiểu thảm thực vật đặc trƣng.
Kiểu phân loại này thích hợp với việc phân loại quần xã phục vụ chăn nuôi. Clements, Gorotkop (1946), Whittaker (1953) (là các tác giả điển hình cho trƣờng phái Anh-Mỹ) đã đƣa ra hệ thống phân loại dựa vào các đặc điểm khác nhau của thảm thực vật ở các trạng thái. Đó là quần xã dẫn xuất hay quần xã cao đỉnh (dẫn theo [85],[140]). Sukachev (1957) đã đƣa ra định nghĩa đầy đủ hơn về quần hợp.
Theo ông, quần hợp thực vật là đơn vị phân loại cơ sở của thực vật quần lạc học, bao gồm các thực vật quần giống nhau về khả năng tích lũy và chuyển hóa vật chất và năng lƣợng trên bề mặt Trái đất, hay có thể nó là đồng nhất về sinh địa quyển. Ông đƣa ra hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên cơ sở nguồn gốc tiến hóa hệ thực vật (dẫn theo [6]). Fosberg (1958) đƣa ra hệ thống phân loại thảm thực vật trên cơ sở hình thái và cấu trúc của quần thể. Tác giả đã phân biệt một nhóm cấu trúc dựa theo khoảng cách giữa các cá thể trong quần thể, một lớp quần thể dựa theo chức năng vật hậu, một cấp cơ sở là quần hệ dựa trên dạng sống ƣu thế trong quần thể (dẫn theo [112]).
Các nhà lâm học Trung Quốc đã căn cứ vào nguyên tắc sinh thái quần xã, kết cấu ngoại mạo, phân bố địa lí, động thái diễn thế, môi trƣờng sinh thái để chia ra các cấp phân loại khác nhau: Loại hình thực bì (đơn vị cấp cao); Quần hệ (đơn vị cấp trung) và đơn vị cơ bản. Trên mỗi cấp,lại chia ra các cấp phụ. Căn cứ phân loại đơn vị cấp cao chủ yếu dựa vào ngoại mạo, kết cấu và đặc trƣng địa lí sinh thái, cấp trung và dƣới cấp trung chủ yếu căn cứ vào tổ thành loài (dẫn theo [71]). Ellenberg, Museller, Dombois (1967) (là tác giả tiêu biểu cho trƣờng phái Thủy Điển) đã đƣa ra hệ thống phân loại thảm thực vật gồm 7 lớp quần hệ, các lớp lại đƣợc chia thành lớp phụ, nhóm quần hệ và sau cùng là quần hệ (dẫn theo [6]).
6 Theo Utkin và Đƣlít (1968) (trƣờng phái Xô Viết), toàn bộ sinh quyển trên đất liền có các kiểu sau: rừng, đầm lầy, thảo nguyên, hoang mạc. Kiểu rừng là đơn vị phân loại lớn nhất. Kiểu rừng đƣợc chia ra 2 kiểu phụ: 1A- kiểu rừng có khoảng không phân bố trên 8-10m; 1B- rừng cây bụi và rừng thấp cao dƣới 8-10 m. Các kiểu phụ lại đƣợc chia thành các sinh địa quần lạc rừng (dẫn theo [6]).
Liên Hợp Quốc (1973) đã chấp nhận sử dụng hệ phân loại thảm thực vật của Ellenberg và Muller (1967) dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và có thể thể hiện đƣợc trên bản đồ 1:2. Hệ thống đƣợc sắp xếp nhƣ sau [114],[6]: 1. Lớp quần hệ 1. Phân lớp quần hệ 1.
Nhóm quần hệ 1. Phân quần hệ Theo hệ thống phân loại này, thì thảm thực vật thế giới có 5 lớp quần hệ là: 1. Lớp quần hệ rừng kín (close forest); 2. Lớp quần hệ rừng thƣa Woodland (open stands of trees); 3.
Lớp quần hệ cây bụi (shrubland or thicket); 4. Lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần hệ tƣơng tự (dwarf shrub and related comunities); 5. Lớp quần hệ cây thảo (herbaceous vegetation). Theo David và cộng sự (1993) khi nghiên cứu rừng nhiệt đới Nam Mỹ đã nhận định sự xuất hiện hiện tƣợng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành 7 loài cây có thể giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài, hiệu quả của tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố (dẫn theo [114]).
Nhận xét: Các tác giả trên thế giới khi nghiên cứu về thảm thực vật đã tập trung vào xác định loài, xây dựng khung phân loại để phân chia kiểu thảm thực vật, tìm hiểu ảnh hƣởng của khí hậu thổ nhƣỡng đến sự sinh trƣởng và tái sinh của cây, nghiên cứu ảnh hƣởng của yếu tố địa lí, ảnh hƣởng tƣơng hỗ của các tầng cây trong thảm…Đây là cơ sở quan trong cho việc đề xuất các biện pháp khai thác, bảo tồn và phát triển bền vững thảm thực vật rừng. Ở Việt Nam Chevalier (1918), nhà bác học ngƣời Pháp là ngƣời đầu tiên đƣa ra bảng xếp loại thảm thực vật rừng Bắc Bộ thành 10 kiểu (dẫn theo [114]). Ở miền Nam, Maurand (1953) có đƣa ra bảng phân loại mới về các quần xã thực vật (dẫn theo [6]). Dƣơng Hàm Hi (1956), Viện khoa học Lâm nghiệp Bắc Kinh đã đƣa ra bảng xếp loại mới về thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam (dẫn theo [114]).
Viện điều tra quy hoạch rừng (1960) đƣa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng thành 4 loại hình lớn: Loại hình I gồm những đất đai hoang trọc, những trảng thảm thực vật, và cây bụi; Loại hình II gồm những rừng non mới mọc; Loại hình III gồm tất cả các loại rừng bị khai thác mạnh; Loại hình IV gồm những rừng già nguyên sinh. Cách phân loại này rất đơn giản, do đó đã đƣợc áp dụng rộng rãi (dẫn theo [114]). Loschau (1960) đƣa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh. Bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái nhƣ sau: Rừng loại I: gồm những đất đai hoang trọc, trảng thảm thực vật và cây bụi; Rừng loại II: gồm những rừng non mới mọc; Rừng loại III: gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ; Rừng loại IV: rừng nguyên sinh chƣa bị khai thác.
Đây là hệ thống phân loại đƣợc áp dụng khá rộng rãi ở nƣớc ta trong việc điều tra tái sinh rừng cũng nhƣ điều tra tài nguyên rừng theo khối trạng thái (dẫn theo [113]). 8 Pócs (1965) đã phân tích và sắp xếp các loài của hệ thực vật miền Bắc nƣớc ta thành 22 yếu tố địa lí. Phổ yếu tố do ông đƣa ra cho thấy hệ thực vật miền Bắc có yếu tố đặc hữu chiếm 23,6%, yếu tố Đông Dƣơng 16,4%, Yếu tố Indo-Malaisia 25,7%, yếu tố Ấn Độ 9,3% và yếu tố Nam Trung Quốc 5,1% [136]. Từ đó cho thấy hệ thực vật Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với các hệ thực vật lân cận.
Vũ Đình Huề (1969), khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu, đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu. Ông cũng đã kết luận tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới [40]. Trần Ngu Phƣơng (1970) khi nghiên cứu thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc tổ thành của các thảm thực vật (dẫn theo [121]). Ông cũng đã đƣa ra bảng phân loại chia rừng miền Bắc thành ba đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mƣa mùa, đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa và đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa núi cao.
Bảng phân loại gồm có các đai rừng và kiểu rừng sau (dẫn theo [114]). - Đai rừng nhiệt đới mƣa mùa: Bao gồm: Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thƣờng xanh ngập mặn; Kiểu rừng nhiệt đới mƣa mùa lá rộng thƣờng xanh; Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thƣờng xanh; Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thung lũng; Kiểu phụ rừng nhiệt đới lá rộng thƣờng xanh núi đá vôi. - Đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa: Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thƣờng xanh; Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi. - Đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa núi cao: Vũ Tự Lập (1976) đã sử dụng độ ƣu thế của các loài cây trong ô tiêu chuẩn để xác định quần hợp và ƣu hợp trong công trình “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam”.