Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử Tỉnh Ninh Bình Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Bộ (2006-2015)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận văn

Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH VỀ BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

1.1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ

1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công tác bảo tồn các di tích lịch sử ở Ninh Bình trước năm 2006

1.3. Chủ trương của Đảng bộ

1.4. Sự chỉ đạo của Đảng bộ

1.4.1. Chỉ đạo kiểm kê, xếp hạng các di tích

1.4.2. Chỉ đạo tôn tạo, tu bổ, phục hồi các di tích

1.4.3. Chỉ đạo xây dựng các nguồn lực để bảo tồn các di tích lịch sử

1.4.4. Chỉ đạo bảo tàng hiện vật, tư liệu lịch sử

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH VỀ BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng bộ

2.1.1. Bối cảnh lịch sử

2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ

2.1.3. Sự chỉ đạo của Đảng bộ

2.1.3.1. Chỉ đạo kiểm kê, phân loại, xếp hạng các di tích
2.1.3.2. Chỉ đạo tu bổ, tôn tạo, phục dựng các di tích
2.1.3.3. Chỉ đạo phát triển các nguồn lực để bảo tồn các di tích lịch sử
2.1.3.4. Chỉ đạo bảo tàng hiện vật, tư liệu lịch sử

2.2. Tiểu kết chương 2

3. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ

3.2. Một số kinh nghiệm

3.3. Tiểu kết chương 3

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử Tỉnh Ninh Bình 2006 2015

Bảo tồn di tích lịch sử là một nhiệm vụ quan trọng trong việc gìn giữ văn hóa và lịch sử của một quốc gia. Tỉnh Ninh Bình, với nhiều di tích lịch sử nổi bật, đã có những nỗ lực đáng kể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích này trong giai đoạn từ 2006 đến 2015. Các di tích lịch sử không chỉ là những chứng tích của quá khứ mà còn là nguồn tài nguyên quý giá cho phát triển du lịch và giáo dục. Trong giai đoạn này, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã có những chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.1. Ý Nghĩa Của Việc Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử

Việc bảo tồn di tích lịch sử không chỉ giúp gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn tạo ra cơ hội cho phát triển du lịch bền vững. Các di tích lịch sử như Cố đô Hoa Lư, đền thờ vua Đinh, và nhiều địa điểm khác không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước.

1.2. Các Di Tích Lịch Sử Nổi Bật Tại Ninh Bình

Ninh Bình nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử như Cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, và quần thể danh thắng Tràng An. Những di tích này không chỉ có giá trị văn hóa mà còn là minh chứng cho sự phát triển của nền văn minh Việt Nam qua các thời kỳ.

II. Thành Tựu Trong Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử Tỉnh Ninh Bình 2006 2015

Trong giai đoạn từ 2006 đến 2015, tỉnh Ninh Bình đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác bảo tồn di tích lịch sử. Các chương trình bảo tồn đã được triển khai đồng bộ, từ việc kiểm kê, phân loại đến tu bổ, phục hồi các di tích. Sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh đã tạo ra những bước tiến đáng kể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

2.1. Các Chương Trình Bảo Tồn Được Triển Khai

Nhiều chương trình bảo tồn đã được thực hiện, bao gồm việc kiểm kê và phân loại các di tích lịch sử, từ đó xây dựng kế hoạch tu bổ và phục hồi. Các di tích như đền thờ vua Đinh và chùa Bái Đính đã được đầu tư nâng cấp, thu hút du khách và tạo nguồn thu cho địa phương.

2.2. Sự Hỗ Trợ Từ Các Tổ Chức Quốc Tế

Ninh Bình đã nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế trong việc bảo tồn di sản văn hóa. Các dự án hợp tác đã giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng cho cán bộ quản lý di tích, đồng thời tạo ra các nguồn lực tài chính cần thiết cho công tác bảo tồn.

III. Thách Thức Trong Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử Tỉnh Ninh Bình

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng công tác bảo tồn di tích lịch sử tại Ninh Bình vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu nguồn lực tài chính, sự xuống cấp của di tích, và sự thiếu nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa là những khó khăn cần được giải quyết.

3.1. Thiếu Nguồn Lực Tài Chính

Một trong những thách thức lớn nhất trong công tác bảo tồn di tích lịch sử là thiếu nguồn lực tài chính. Nhiều di tích cần được tu bổ nhưng không có đủ kinh phí để thực hiện. Điều này dẫn đến tình trạng xuống cấp của các di tích, ảnh hưởng đến giá trị văn hóa và lịch sử của chúng.

3.2. Nhận Thức Cộng Đồng Về Giá Trị Di Sản

Sự thiếu nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa cũng là một thách thức lớn. Nhiều người dân chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn di tích, dẫn đến việc thiếu sự tham gia và hỗ trợ trong các hoạt động bảo tồn.

IV. Phương Pháp Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử Tại Ninh Bình

Để giải quyết các thách thức trong công tác bảo tồn di tích lịch sử, tỉnh Ninh Bình đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này không chỉ tập trung vào việc tu bổ di tích mà còn chú trọng đến việc nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển du lịch bền vững.

4.1. Tăng Cường Công Tác Giáo Dục

Giáo dục cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa là một trong những phương pháp quan trọng. Các chương trình tuyên truyền, hội thảo và hoạt động giáo dục sẽ giúp nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo tồn di tích.

4.2. Phát Triển Du Lịch Bền Vững

Phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn di tích lịch sử là một phương pháp hiệu quả. Du lịch không chỉ tạo ra nguồn thu cho địa phương mà còn giúp nâng cao giá trị của các di tích lịch sử thông qua việc thu hút sự quan tâm của du khách.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Các kết quả nghiên cứu về bảo tồn di tích lịch sử tại Ninh Bình đã chỉ ra rằng việc bảo tồn không chỉ mang lại lợi ích về mặt văn hóa mà còn có tác động tích cực đến phát triển kinh tế. Các di tích lịch sử đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách, góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch địa phương.

5.1. Tác Động Tích Cực Đến Du Lịch

Việc bảo tồn các di tích lịch sử đã tạo ra nhiều cơ hội cho phát triển du lịch. Các di tích như quần thể danh thắng Tràng An đã thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm, tạo ra nguồn thu lớn cho tỉnh Ninh Bình.

5.2. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng

Các hoạt động bảo tồn đã giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị di sản văn hóa. Người dân ngày càng ý thức hơn về tầm quan trọng của việc bảo tồn di tích lịch sử, từ đó tích cực tham gia vào các hoạt động bảo tồn.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Bảo Tồn Di Tích Lịch Sử Tỉnh Ninh Bình

Bảo tồn di tích lịch sử tại Ninh Bình trong giai đoạn 2006-2015 đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Tương lai của công tác bảo tồn cần được xây dựng trên nền tảng của sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng. Việc phát triển các chương trình bảo tồn bền vững sẽ là chìa khóa để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của tỉnh.

6.1. Định Hướng Phát Triển Bền Vững

Tương lai của bảo tồn di tích lịch sử tại Ninh Bình cần được định hướng phát triển bền vững, kết hợp giữa bảo tồn và phát triển du lịch. Các chương trình bảo tồn cần được thiết kế để không chỉ bảo vệ di tích mà còn tạo ra giá trị kinh tế cho địa phương.

6.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa sẽ giúp Ninh Bình tiếp cận được nhiều nguồn lực và kinh nghiệm quý báu. Các dự án hợp tác sẽ tạo ra cơ hội để nâng cao chất lượng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Ninh Bình còn có những địa danh ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc – Kinh đô Hoa Lƣ (Cố đô Hoa Lƣ). Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân và lên ngôi Hoàng đế, Đinh Bộ Lĩnh đã chọn vùng đất Hoa Lƣ làm Kinh đô nhằm đảm bảo cho sự ổn định để xây dựng đất nƣớc. Là địa bàn có nhiều núi đá, rừng và biển, ngƣời dân Ninh Bình đã tạo dựng nhiều làng nghề độc đáo.

Những nghệ nhân dân gian điêu khắc gỗ, đá ở các làng nghề góp phần dựng nên những công trình kiến trúc độc đáo nhƣ: Nhà thờ đá Phát Diệm, đền vua Đinh – vua Lê, Đình Trùng Hạ, Đình Trùng Thƣợng … Ninh Bình là địa danh có bề dày truyền thống cách mạng, nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, di tích kiến trúc nghệ thuật. Với những truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, những ngƣời con của vùng đất này đã hình thành đƣợc bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh tinh thần to lớn không chỉ ở trong lịch sử xa xƣa, trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn đối với công cuộc xây dựng và phát triển quê hƣơng, đất nƣớc ngày nay. Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, với bề dày truyền thống và lịch sử, Ninh Bình đã, đang và sẽ tiếp tục viết nên những trang sử mới hào hùng, cùng với nhân dân cả nƣớc xây dựng một nƣớc Việt Nam giàu đẹp, văn minh. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao.

Khi đó, các hoạt động nhƣ du lịch hay tổ chức các lễ hội truyền thống gắn với các di tích lịch sử trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con ngƣời. Trong xu hƣớng hiện nay, khách du lịch thƣờng tìm đến những tour du lịch hay những lễ hội gắn liền với tự nhiên, lịch sử, tìm hiểu về văn hóa, cội nguồn dân tộc. Ninh Bình là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có nhiều cảnh đẹp và địa hình phong phú, đa dạng. Bên cạnh đó, Ninh Bình còn là tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời, có hàng trăm di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh.

Tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh có 238 di tích đƣợc xếp hạng [35, tr. 334] trong đó có 160 di tích cấp tỉnh và 78 di tích cấp quốc gia. Riêng di tích Cố đô Hoa Lƣ và quần thể danh thắng Tràng An là di tích quốc gia đặc biệt, đƣợc UNESCO vinh danh Di sản Văn hóa, Thiên nhiên Thế 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Với nguồn tài nguyên văn hóa to lớn và đặc sắc, Ninh Bình đã thu hút rất nhiều khách đến tham quan.

Di tích lịch sử và danh thắng của địa phƣơng là nguồn tài nguyên du lịch có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch của quốc gia nói chung và của tỉnh Ninh Bình nói riêng. Năm 2010, Ninh Bình đón trên 1 triệu lƣợt khách, tổng thu từ hoạt động du lịch năm 2010 đạt 122 tỷ đồng. Sự tăng trƣởng của “ngành công nghiệp không khói” đã có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phƣơng theo hƣớng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, du lịch - dịch vụ, tạo việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, sự phát triển du lịch làm ảnh hƣởng trực tiếp tới tình trạng bảo quản di tích.

Các nhà kinh doanh du lịch đã khai thác một cách bừa bãi các di tích hoặc phá hỏng không gian cảnh quan di tích để xây dựng các công trình phục vụ dịch vụ du lịch. Các cơ sở phục vụ du khách đƣợc xây dựng tràn lan, làm thay đổi diện mạo của di tích, danh thắng, làm biến mất vùng cảnh quan, vốn là nhân tố tạo sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Do nhận thức của các bên tham gia vào hoạt động du lịch gồm cơ quan quản lý, doanh nghiệp và ngƣời dân địa phƣơng về giá trị của di tích lịch sử còn hạn chế, vì vậy, để phát triển du lịch bền vững cần phải quan tâm đến yếu tố bảo tồn trong khi khai thác các di tích lịch sử. Bên cạnh việc khai thác tài nguyên về du lịch, hoạt động tổ chức các lễ hội truyền thống gắn với các di tích lịch sử nhận đƣợc sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, đồng thời, đây là hoạt động tâm linh thu hút đông đảo nhân dân ở các địa phƣơng và du khách nƣớc ngoài.

Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nƣớc và các ban, ngành có liên quan, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã quan tâm và chỉ đạo sát sao đến công tác tổ chức lễ hội gắn với các di tích lịch sử. Chỉ thị số 02/2008/CT-UBND ngày 28/5/2008 về việc tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhằm chấn chỉnh những hạn chế trong hoạt động lễ hội, đảm bảo tổ chức lễ hội đúng pháp luật và hoạt động lễ hội thực sự là sinh hoạt văn hóa, tín ngƣỡng lành mạnh của nhân dân. Trong hoạt động tổ chức lễ hội, các địa phƣơng đã thành lập Ban tổ chức lễ hội, các tiểu ban hoạt động lễ hội, phân công rõ trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên Ban tổ chức lễ hội, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ở địa phƣơng có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện các nội dung hoạt động của lễ hội. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức lễ hội gắn với các di tích cũng còn có những hạn chế nhƣ hiện tƣợng xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng quanh di tích, hiện tƣợng xâm lấn di tích, ý thức của du khách thập phƣơng chƣa cao trong việc gìn giữ các hiện vật trong di tích mặc dù đã đƣợc hƣớng dẫn… Nhìn nhận vào thực tế, thông qua quá trình khai thác các di tích lịch sử gắn với hoạt động du lịch và tổ chức lễ hội truyền thống, có thể thấy: việc khai thác, phát huy giá trị của các di tích lịch sử đặt ra yêu cầu cần phải bảo tồn tốt các di tích này.

Mặt khác, trong quá trình khai thác, phát huy giá trị của các di tích lịch sử cũng xuất hiện những bất cập và tồn tại trong việc bảo tồn các di tích. Đó là tình trạng xuống cấp, suy thoái của một số di tích; việc trùng tu, sửa chữa chƣa khoa học, làm biến dạng không gian và bản thân chính di tích đó; đó cũng là tình trạng biến dạng của một số lễ hội và sinh hoạt văn hóa, lạm dụng nghi lễ, nghi thức tôn giáo, sự thƣơng mại hóa; gây quá tải tại một số khu di tích, làm ảnh hƣởng đến môi trƣờng quanh di tích. Chính những hoạt động khai thác du lịch, tổ chức lễ hội này đã tác động ngƣợc trở lại đến các di tích, do đó, cần phải bảo tồn để giữ nguyên bản các di tích, giúp các di tích có thể phát huy đƣợc giá trị của nó. Đặc điểm nổi bật của di tích lịch sử ở Ninh Bình là rất đa dạng, phong phú về mặt loại hình (đình, đền, chùa, miếu, nhà cổ, di tích cách mạng, kháng chiến…) và chất liệu (gạch, đá, gỗ, tre, nứa, lá,…), trong đó, đa số là chất liệu hữu cơ, rất dễ bị biến dạng, nấm mốc, mối mọt, hƣ hỏng, xuống cấp, sụp đổ do thời tiết, độ ẩm, mƣa bão, lũ lụt, đặc biệt là sự biến đổi khí hậu trong nhiều năm gần đây.

Chính vì vậy, ngoài yếu tố về mặt chủ quan là hoạt động của con ngƣời, về mặt khách quan, khí hậu và tự nhiên cũng là những yếu tố có ảnh hƣởng không nhỏ đến sự xuống cấp của các di tích. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn các di tích lịch sử Di tích lịch sử là một một loại hình tài sản, chứa đựng những giá trị của một giai đoạn lịch sử nhất định, của một cộng đồng, dân tộc, một vùng miền, đất nƣớc. Di sản văn hóa nói chung và hệ thống di tích lịch sử nói riêng là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng, là cốt lõi của bản sắc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lƣu văn hóa. Di tích lịch sử là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc.

Di tích giúp cho con ngƣời biết đƣợc cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trƣng văn hoá của vùng miền đất nƣớc và do đó có tác động ngƣợc trở lại tới việc hình thành nhân cách con ngƣời hiện đại. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng về vai trò cũng nhƣ ý nghĩa to lớn của các di tích lịch sử, Đảng và Nhà nƣớc luôn quan tâm và đƣa ra các chủ trƣơng về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trong từng giai đoạn, đáp ứng nhu cầu hội nhập của đất nƣớc. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) tiếp tục khẳng định những quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa đƣợc nêu lên trong những văn kiện trƣớc và nhấn mạnh tƣ tƣởng phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội, là một trong những nhiệm vụ lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. “Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa…Tiếp tục đầu tƣ cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng và các dân tộc.

Bảo tồn và phát huy văn hóa, văn nghệ dân gian. Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch” [44, tr. Nhƣ vậy, trong quan điểm cụ thể này, Đảng đã khẳng định vai trò và mục đích của việc phát huy, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa, đồng thời gắn việc phát triển văn hóa, bảo tồn các di tích lịch sử với phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế du lịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ