Tổng quan nghiên cứu

Công tác bảo tồn di tích lịch sử giữ vai trò cốt lõi trong việc duy trì bản sắc văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của địa phương. Tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh Ninh Bình đã có 238 di tích được xếp hạng, ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc so với con số 125 di tích vào năm 2005. Nằm ở vị trí chiến lược thuộc cực Nam đồng bằng Bắc Bộ, Ninh Bình là vùng đất cổ gắn liền với kinh đô của ba vương triều Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý và sở hữu điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình hàng năm trên 1.700 mm. Những yếu tố tự nhiên khắc nghiệt này, kết hợp cùng áp lực gia tăng từ hoạt động du lịch khi địa phương đón trên 3,26 triệu lượt khách vào năm 2010, đã đặt ra bài toán cấp bách về việc chống xuống cấp, bảo vệ tính nguyên bản của các công trình kiến trúc cổ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình vận dụng đường lối văn hóa của Trung ương vào điều kiện thực tế địa bàn nhằm lãnh đạo công tác bảo tồn di tích lịch sử. Mục tiêu cụ thể là làm rõ các chủ trương, tiến trình chỉ đạo tổ chức thực hiện trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015 qua hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIX và khóa XX. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 2 thành phố Ninh Bình, Tam Điệp cùng 6 huyện: Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, Nho Quan. Luận văn có ý nghĩa sâu sắc khi hệ thống hóa kinh nghiệm thực tiễn, đóng góp luận cứ khoa học nhằm tối ưu hóa sự phối hợp giữa bảo tồn di sản và thúc đẩy ngành công nghiệp không khói, mang lại tổng doanh thu 549,908 tỷ đồng cho ngành du lịch địa phương vào năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và di sản, kết hợp cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Khung phân tích vận dụng lý thuyết quản trị di sản bền vững, nhấn mạnh mô hình tương tác đa chiều giữa ba thành tố: quản lý nhà nước, phát huy giá trị kinh tế du lịch và sự tham gia của cộng đồng địa phương. Các chỉ tiêu định lượng được tham chiếu theo Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đặt mục tiêu tu bổ 70% di tích lịch sử cách mạng và 80% di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Hệ thống khái niệm cơ bản được chuẩn hóa xuyên suốt công trình bao gồm: di tích lịch sử, bảo tồn di tích, xã hội hóa công tác bảo tồn và phục hồi di tích theo quy định của Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Không gian quy hoạch bảo tồn được cấu trúc hóa theo Quyết định số 82/2003/QĐ-TTg với vùng bảo vệ đặc biệt có quy mô 300 ha và vùng đệm bao quanh có diện tích 1.087 ha thuộc Quần thể Cố đô Hoa Lư.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác đa tầng từ các văn kiện lưu trữ của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình khóa XIX và XX, báo cáo tổng kết hàng năm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình, cùng hệ thống kiểm kê hơn 20.000 hiện vật, tư liệu của Bảo tàng Ninh Bình. Phương pháp chọn mẫu điển hình được triển khai trên 8 đơn vị hành chính cấp huyện, tập trung phân tích sâu vào 238 di tích đã được xếp hạng, bao gồm 78 di tích cấp quốc gia và 160 di tích cấp tỉnh.

Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn hai phương pháp chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Việc sử dụng phương pháp lịch sử giúp tái hiện chân thực tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua trục thời gian 10 năm (2006-2015), từ đó làm sáng tỏ bối cảnh, chủ trương và kết quả qua từng nhiệm kỳ. Phương pháp logic được áp dụng để khái quát hóa các mối liên hệ bản chất, bóc tách ưu điểm và hạn chế. Ngoài ra, các kỹ thuật bổ trợ như thống kê định lượng, so sánh tỷ lệ phát triển và phân tích tài liệu thứ cấp được vận dụng nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan của các kết luận khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác kiểm kê và xếp hạng di tích có bước nhảy vọt về số lượng và chất lượng pháp lý. Giai đoạn 2006-2010, số lượng di tích được xếp hạng toàn tỉnh tăng từ 125 lên 238 di tích (tăng trưởng 90,4%). Trong đó, di tích cấp tỉnh tăng mạnh từ 47 lên 160 di tích (tăng 240,4%), trong khi hệ thống 78 di tích quốc gia được quản lý ổn định và nâng cấp hồ sơ khoa học.

Thứ hai, việc huy động các nguồn lực tài chính ngoài ngân sách đạt hiệu quả rõ rệt thông qua chính sách xã hội hóa. Năm 2010, tổng lượt khách du lịch đến Ninh Bình đạt 3.261.000 lượt, tăng 38,66% so với năm 2009; trong đó khách quốc tế đạt 700.006 lượt, tăng 16,32%. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch năm 2010 đạt 549,908 tỷ đồng, tăng 119,8% so với năm 2009, đóng góp 55 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Riêng Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động năm 2010 đón 324.000 lượt khách, nộp ngân sách 5,46 tỷ đồng, tạo nguồn lực tái đầu tư trực tiếp cho công tác tu bổ.

Thứ ba, sự nghiệp bảo tàng và phát huy giáo dục truyền thống ghi nhận nhiều dấu ấn cụ thể. Bảo tàng Ninh Bình đã phát triển kho tư liệu từ vài nghìn hiện vật sau khi tái lập tỉnh lên hơn 20.000 hiện vật phong phú về chủng loại. Phong trào "Trường học thân thiện, học sinh tích cực" được triển khai sâu rộng, huy động các liên đội nhà trường nhận chăm sóc thường xuyên gần 100 di tích quốc gia và hàng trăm di tích cấp tỉnh.

Thảo luận kết quả

Thành công trong công tác bảo tồn di tích giai đoạn 2006-2015 xuất phát từ năng lực lãnh đạo sáng tạo, quyết liệt của Tỉnh ủy Ninh Bình khi cụ thể hóa kịp thời Nghị quyết số 03-NQ/TU và Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ. Sự kết hợp hài hòa giữa đầu tư trọng điểm của nhà nước với đóng góp công đức từ nhân dân đã giải quyết hiệu quả bài toán thiếu hụt kinh phí trùng tu.

So sánh với các nghiên cứu văn hóa tại vùng đồng bằng sông Hồng, mô hình của Ninh Bình mang tính đột phá khi khai thác tối đa giá trị di sản Cố đô Hoa Lư và Tràng An để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang du lịch dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình này cũng bộc lộ những bất cập như tình trạng thương mại hóa lễ hội, sự cố trùng tu tự phát gây biến dạng kiến trúc gốc và đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở còn thiếu tính chuyên nghiệp. Các dữ liệu về lượng khách du lịch và cơ cấu kinh phí tu bổ có thể được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ tăng trưởng cột ghép và bảng thống kê phân loại di tích, giúp các nhà quản lý theo dõi rõ ràng mối tương quan giữa đầu tư bảo tồn và lợi ích kinh tế thu được.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cần ban hành nghị quyết chuyên đề về nâng cao năng lực lãnh đạo công tác quản lý di sản, chỉ đạo hoàn thiện quy chế phân cấp quản lý cho 100% di tích lịch sử trên địa bàn 8 huyện, thành phố trước năm 2018. Mục tiêu cụ thể là chuẩn hóa trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho tối thiểu 90% cán bộ làm công tác di sản cấp cơ sở.

Thứ hai, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao đa dạng hóa cơ chế xã hội hóa, xây dựng đề án thu hút nguồn vốn tư nhân và tài trợ quốc tế. Chỉ tiêu đặt ra là duy trì tỷ lệ vốn xã hội hóa chiếm từ 45% đến 50% tổng kinh phí trùng tu di tích hàng năm, ưu tiên bố trí ngân sách hỗ trợ chống xuống cấp cấp thiết cho khoảng 150 di tích cấp tỉnh trong giai đoạn 2016-2020.

Thứ ba, Bảo tàng Ninh Bình và Ban Quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện số hóa 100% hồ sơ khoa học của hơn 20.000 hiện vật và tài liệu lưu trữ. Kế hoạch thiết lập ngân hàng dữ liệu số phục vụ trưng bày ảo và tra cứu trực tuyến cần hoàn thành trong mốc thời gian 2017-2020.

Thứ tư, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành với tần suất định kỳ tối thiểu 2 lần/năm tại các điểm di tích trọng điểm. Xử lý triệt để các hành vi lấn chiếm đất đai, tự ý cải tạo làm sai lệch không gian gốc di tích và vi phạm vệ sinh môi trường cảnh quan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa có thể sử dụng luận văn làm cẩm nang thực tiễn để tham chiếu cơ chế phân cấp quản lý, hoạch định chính sách bảo tồn thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội cấp tỉnh.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn hóa học, Di sản học có thêm nguồn tài liệu hệ thống hóa toàn diện về tiến trình lãnh đạo văn hóa cơ sở qua hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIX và XX.

Thứ ba, các doanh nghiệp lữ hành, ban quản lý khu du lịch và chuyên gia quy hoạch không gian tìm thấy trong công trình những cơ sở khoa học về phân vùng bảo vệ (300 ha vùng lõi và 1.087 ha vùng đệm) để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa bền vững, tôn trọng tính chân xác của di tích.

Thứ tư, cán bộ quản lý bảo tàng và giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu văn hóa có thể khai thác các case-study về sưu tầm hơn 20.000 hiện vật và mô hình huy động học sinh chăm sóc gần 100 di tích làm bài giảng thực tế trong môn học Quản lý Di sản Văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

Giai đoạn 2006-2010, hệ thống di tích tại tỉnh Ninh Bình đã có sự phát triển như thế nào về số lượng? Số lượng di tích được xếp hạng tăng trưởng vượt bậc từ 125 di tích năm 2005 lên 238 di tích vào cuối năm 2010 (tăng 90,4%). Trong đó, di tích cấp tỉnh đạt 160 công trình và di tích cấp quốc gia duy trì ở mức 78 công trình, tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý.

Nguồn kinh phí cho công tác tu bổ, bảo tồn di tích tại Ninh Bình được huy động từ những kênh nào? Kinh phí được phối hợp từ ba nguồn: ngân sách trung ương thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa với tổng kinh phí 2.496 tỷ đồng giai đoạn 2006-2010, nguồn ngân sách cân đối của địa phương và nguồn vốn xã hội hóa từ các tổ chức, doanh nghiệp, tiền công đức của người dân.

Sự phát triển của ngành du lịch tác động thế nào đến công tác bảo tồn di tích tại Ninh Bình năm 2010? Năm 2010, ngành du lịch đón hơn 3,26 triệu lượt khách, tạo doanh thu 549,908 tỷ đồng và nộp ngân sách 55 tỷ đồng. Nguồn thu này cung cấp tài chính tái thiết di tích nhưng đồng thời tạo áp lực quá tải hạ tầng, đòi hỏi địa phương phải quản lý chặt chẽ cảnh quan.

Mô hình giáo dục di sản nào được đánh giá mang lại hiệu quả thực tiễn cao tại địa phương? Phong trào "Trường học thân thiện, học sinh tích cực" mang lại hiệu quả nổi bật khi huy động các liên đội trường học nhận chăm sóc gần 100 di tích cấp quốc gia và hàng trăm di tích cấp tỉnh, gắn kết học sinh với việc bảo vệ môi trường di sản.

Luận văn đã chỉ ra những tồn tại chủ yếu nào trong việc trùng tu di tích giai đoạn 2006-2015? Hạn chế chính gồm việc bê tông hóa cục bộ làm sai lệch kiến trúc gốc, hiện tượng thương mại hóa không gian lễ hội, thiếu đồng bộ giữa các cấp quản lý và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở chưa đồng đều qua 2 nhiệm kỳ.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ quá trình vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào thực tiễn lãnh đạo bảo tồn di tích lịch sử tại tỉnh Ninh Bình trong 10 năm (2006-2015).
  • Hệ thống hóa các kết quả cụ thể về kiểm kê 238 di tích xếp hạng, sưu tầm lưu trữ hơn 20.000 hiện vật bảo tàng và mở rộng quy hoạch 300 ha vùng lõi Cố đô Hoa Lư.
  • Tổng kết sâu sắc 3 bài học kinh nghiệm về kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch, đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao năng lực bộ máy quản lý.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương và đào tạo chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn.
  • Đề ra lộ trình 4 nhóm giải pháp chiến lược giai đoạn 2016-2020 nhằm số hóa di sản, chuẩn hóa 100% nhân lực và tăng cường thanh tra định kỳ 2 lần/năm.

Để tìm hiểu chi tiết toàn bộ số liệu khảo sát và hệ thống giải pháp phát triển di sản văn hóa bền vững, độc giả hãy nghiên cứu toàn văn luận văn thạc sĩ lịch sử này nhằm ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý và học thuật.