Chương 1: Những vấn đề lí luận về BLPHCK và pháp luật về BLPHCK Chương 2: Thực trạng pháp luật về BLPHCK ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về BLPHCK ở Việt Nam hiện nay. 7 Phần thứ nhất TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu trong nước về hoạt động kinh doanh chứng khoán và pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh chứng khoán Trước hết, cần kể đến các công trình nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sĩ, được các tác giả tiếp cận dưới hai góc độ chủ yếu là kinh tế học và luật học. Có thể kể đến một số công trình luận án tiêu biểu như: - Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần Đăng Khâm (2002), Đại học Kinh tế quốc dân, về “Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam”. Trong luận án này, phạm vi các trung gian tài chính được tác giả xem xét khá rộng, bao gồm các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, CTCK và các quỹ đầu tư, thực hiện hai nhóm hoạt động chính là phát hành chứng khoán và KDCK (BLPHCK, môi giới, tư vấn, lưu ký và tự doanh).
Vai trò của từng loại trung gian tài chính đối với sự phát triển của TTCK đã được phân tích khá cụ thể trong công trình. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu khá rộng lại nhìn nhận dưới góc độ chủ thể thực hiện với mục đích đưa ra các giải pháp trong bối cảnh TTCK Việt Nam mới đi vào hoạt động, công trình không còn đảm bảo tính thời sự và giá trị tham khảo bị nhiều giới hạn. - Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Lê Thị Lan Hương (2008), Đại học Kinh tế quốc dân về đề tài “Phát triển hoạt động của công ty chứng khoán ở Việt Nam”. Luận án đã tập trung phân tích thực trạng hoạt động của các CTCK để tìm ra những hạn chế, nguyên nhân dẫn tới hoạt động của các CTCK ở Việt Nam chưa phát triển, từ đó đề xuất một số giải pháp cũng như các điều kiện thực thi.
Các hoạt động của CTCK được tập trung nghiên cứu bao gồm hoạt động tự doanh, hoạt động môi giới, BLPHCK, tư vấn đầu tư chứng khoán, thông qua các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển về doanh thu, giá trị giao dịch, trên cơ sở phân tích các nhân tố chủ quan (loại hình tổ chức, qui mô vốn, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trình độ quản lý) và khách quan (sự ổn định kinh tế chính trị, sự phát triển của TTCK, hệ thống pháp luật…) ảnh hưởng tới sự phát triển của các hoạt động này. Tuy vậy, đối tượng nghiên cứu của 8 công trình được xem xét trong khoảng thời từ năm 2000 đến năm 2007, giai đoạn đầu TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động, đặt trong bối cảnh các điều kiện kinh tế-xã hội tại thời kì đó, cho đến nay đã không còn đảm bảo tính cập nhật. Mặt khác, là một nghiên cứu kinh tế, khía cạnh pháp luật chỉ được đề cập như một yếu tố tác động, do đó thiếu tính cụ thể. Song, công trình có giá trị tham khảo nhất định đối với nghiên cứu sinh, đã cung cấp cho nghiên cứu sinh bức tranh tổng thể về tình hình hoạt động của các CTCK ở Việt Nam trong những năm đầu thành lập, trong đó có hoạt động BLPHCK.
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Thị Bích Hà (2018), Học viện Tài chính về đề tài “An toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam”. Trong luận án, những vấn đề lí luận về ATTC của CTCK như sự cần thiết phải đảm bảo ATTC của CTCK, tiêu chí đánh giá ATTC của CTCK, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá ATTC của CTCK và những nhân tố ảnh hưởng đến ATTC của CTCK đã được phân tích và làm rõ, giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn hệ thống về ATTC của CTCK, làm cơ sở phục vụ cho quá trình nghiên cứu sinh nghiên cứu nội dung pháp luật về các giới hạn an toàn cho hoạt động BLPHCK. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành phân tích một cách có hệ thống về thực trạng ATTC của các CTCK Việt Nam giai đoạn từ năm 2012 đến 2016 theo từng nhóm chỉ tiêu đánh giá, so sánh chuẩn mực đánh giá của Việt Nam và thông lệ quốc tế, từ đó đưa ra những giải pháp áp dụng đảm bảo an toàn cho các CTCK. Tuy nhiên, Thông tư số 226/2010/TT-BTC là cơ sở để tác giả đối chiếu khi đánh giá mức độ ATTC của các CTCK Việt Nam, đến nay đã hết hiệu lực và được thay thế lần lượt bởi hai văn bản, Thông tư số 87/2017/TT- BTC và Thông tư số 91/2020/TT-BTC.
Cùng với đó, dữ liệu về CTCK được sử dụng để phân tích, đánh giá đã cách đây khá lâu. Do vậy, công trình không đảm bảo tính cập nhật. Ngoài ra, nội dung pháp lý cũng chưa được nghiên cứu thấu đáo do chỉ được đề cập như một yếu tố cấu thành của đề tài nghiên cứu. - Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Thị Giang Thu (2002), Đại học Luật Hà Nội về đề tài “Xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật Thị trường chứng khoán ở Việt Nam”.
Đây là công trình nghiên cứu dưới góc độ luật học mang tính điển hình và có giá trị tham khảo về mặt lí luận rất lớn đối với nghiên cứu sinh. Mặc dù công trình đã hoàn thành từ hai mươi năm trước nhưng có thể khẳng định, những nghiên cứu mang tính lí luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò của khung pháp luật TTCK cũng như việc xác định các nguyên tắc pháp lý cơ bản của khung pháp luật TTCK ở Việt Nam được đề cập trong luận án vẫn được xem là những kiến thức nền tảng, làm cơ 9 sở cho việc triển khai những công trình nghiên cứu sau này về thị trường chứng khoán và pháp luật TTCK. Tác giả đã chỉ ra hệ thống các nguyên tắc pháp lý, bao gồm: nguyên tắc đảm bảo quyền tự do sở hữu, nguyên tắc tự do kinh doanh, nguyên tắc tự do cạnh tranh, nguyên tắc thực hiện sự can thiệp của nhà nước vào thị trường và nguyên tắc đảm bảo vận hành TTCK tập trung. Đồng thời, tác giả phân tích khá rõ nội dung yêu cầu chuyển hoá từng nguyên tắc vào các bộ phận cấu thành khung pháp luật về TTCK.
Hệ thống những nguyên tắc pháp lý này chi phối toàn bộ các bộ phận pháp luật TTCK, trong đó có bộ phận pháp luật về KDCK mà cấu thành nhỏ hơn của bộ phận này là pháp luật điều chỉnh hoạt động BLPHCK. Trong công trình nghiên cứu của mình, nghiên cứu sinh sẽ dựa vào những nguyên tắc pháp lý này như một trong những cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành về BLPHCK. - Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thuận (2009), Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội về đề tài “Hoàn thiện pháp luật về các tổ chức KDCK trên TTCK tập trung ở Việt Nam”. Đây là công trình khoa học nghiên cứu có tính hệ thống về những vấn đề lí luận và thực tiễn pháp luật về các tổ chức KDCK, bao gồm CTCK và công ty quản lý quỹ.
Tác giả đã xác định tương đối đầy đủ các nhóm quy định cấu thành quan trọng nhất của pháp luật về các tổ chức KDCK và tập trung phân tích cơ sở lí luận, thực trạng pháp lý và giải pháp hoàn thiện cho từng nhóm quy định đó. Đồng thời, tác giả đã nghiên cứu tương đối có hệ thống kinh nghiệm lập pháp cũng như tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức KDCK ở một số nước trên thế giới, qua đó rút ra bài học để vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Cũng giống như một số công trình nghiên cứu khác, phạm vi nghiên cứu của đề tài khá rộng dẫn đến nội dung pháp luật về hoạt động BLPHCK do CTCK thực hiện được đề cập ở mức khái quát cao, các nội dung cụ thể của pháp luật liên quan đến hoạt động BLPHCK không được đề cập. Bên cạnh đó, công trình hoàn thành vào năm 2009, một số quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của CTCK cũng như thực tiễn hoạt động và bối cảnh kinh tế xã hội cho đến nay đã có nhiều thay đổi nên cơ sở đánh giá của luận án đã không còn đảm bảo tính cập nhật.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về mặt lí luận liên quan đến nhóm quy định điều kiện thành lập và nhóm quy định về thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các CTCK sẽ được nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài. Nghiên cứu sinh cũng tiếp thu đề xuất xây dựng mô hình thành lập các tập đoàn KDCK của tác giả để tiếp tục đánh giá trên cơ sở quy định pháp luật hiện hành và điều kiện cho phép của thị trường. 10 - Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Minh Hằng (2010), Đại học Luật Hà Nội, về đề tài “Pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam - những vấn đề lí luận và thực tiễn”. Trong công trình nghiên cứu, quan hệ pháp luật về chào bán cổ phần được tác giả nghiên cứu theo nghĩa hẹp, bao gồm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuẩn bị chào bán, tổ chức thực hiện chào bán và xác nhận kết quả chào bán cổ phần.
CTCK thực hiện hoạt động BLPHCK được tác giả tiếp cận dưới góc độ là một bên chủ thể trung gian, hỗ trợ quá trình chào bán, bên cạnh hai chủ thể chính là tổ chức chào bán và NĐT. Thông qua phân tích đặc thù của phương thức chào bán cổ phần ra công chúng, tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động BLPHCK đối với phương thức chào bán này. Tuy nhiên, do giới hạn đề tài nghiên cứu, luận án chưa đề cập sâu đến trách nhiệm của TCBL trong quy trình chào bán chứng khoán trong đó có trách nhiệm liên quan đến tính chính xác của thông tin trong hồ sơ chào bán.