Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUYỀN TÁC GIẢ 1. Sơ lƣợc sự ra đời và phát triển của quyền tác giả [19] Trong thời kỳ Cổ đại và thời kỳ Trung cổ người ta chưa biết đến quyền cho một tác phẩm trí tuệ. Các quy định luật pháp chỉ có cho những vật mang tác phẩm trí tuệ, đặc biệt là về sở hữu, như không được phép trộm cắp một quyển sách nhưng lại được phép chép lại từ quyển sách đó.
Việc nhiều nghệ sĩ và tác giả cùng làm việc trong một đề tài là một trường hợp bình thường, cũng như việc các nhạc sĩ khác lấy hay thay đổi các bài hát và tác phẩm âm nhạc. Khi không muốn bài viết bị thay đổi tác giả chỉ còn có cách gắn một lời nguyền rủa vào quyển sách của mình như Eike von Repgow, tác giả của Sachsenspiegel, một quyển sách ghi chép lại các luật lệ đương thời, đã nguyền rủa những người giả mạo tác phẩm của ông sẽ bị bệnh hủi. Cùng với phát minh in (khoảng năm 1440), các bản sao chép lại của một tác phẩm bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn. Nhưng tác giả vẫn chưa có được "quyền tác giả" ở bên cạnh và còn phải vui mừng là chẳng những tác phẩm được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một số tiền cho bản viết tay.
Thế rồi đi đến trường hợp là bản in đầu tiên bị các nhà in khác in lại. Việc này làm cho việc kinh doanh của nhà in đầu tiên khó khăn đi vì người này đã đầu tư lao động nhiều hơn và có thể cũng đã trả tiền cho tác giả, những người in lại tự nhiên là có thể mời chào sản phẩm của họ rẻ tiền hơn. Tác giả cũng có thể không bằng lòng với các bản in lại vì những bản in lại này thường được sản xuất ít kỹ lưỡng hơn: có lỗi hay thậm chí bài viết còn bị cố ý sửa đổi. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì thế, để chống lại tệ in lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ phía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định.
Lợi ích của nhà in trùng với lợi ích của nhà cầm quyền vì những người này muốn có ảnh hưởng đến những tác phẩm được phát hành trong lãnh địa của họ. Đặc biệt là nước Pháp do có chế độ chuyên chế sớm nên đã thực hiện được điều này, ít thành công hơn là ở Đức. Tại Đức một số hầu tước còn cố tình không quan tâm đến việc các nhà xuất bản vi phạm các đặc quyền từ hoàng đế nhằm để giúp đỡ các nhà xuất bản này về kinh tế và để mang vào lãnh thổ văn học đang được ưa chuộng một cách rẻ tiền. Những ý tưởng của Phong trào Khai sáng phần lớn là đã được truyền bá bằng các bản in lậu.
Khi thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ra tác phẩm của họ. Tại nước Đức thí dụ như là Albrecht Dürer (1511) đã được công nhận một đặc quyền như vậy. Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho người sáng tạo như là một cá nhân (quyền cá nhân) và chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào. Giữa thế kỷ XVI, các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một vùng nhất định trong một thời gian nhất định.
Khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền nhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng với việc này họ có được một độc quyền kinh doanh (thuyết về sở hữu của nhà xuất bản), ngay cả khi họ không có đặc quyền cho tác phẩm này. Vì thế mà việc in lại bị cấm khi các quyền từ tác giả được mua lại. Mãi đến thế kỷ XVIII, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống như sở hữu cho các lao động trí óc (và hiện tượng của sở hữu phi vật chất). Trong một bộ luật của nước Anh năm 1710, Statue of Anne, lần đầu tiên một độc quyền sao chép của tác giả được công nhận.
Tác giả sau đó nhượng quyền này lại cho nhà xuất bản. Sau một thời gian được thỏa thuận trước tất cả các quyền lại thuộc về tác giả. Tác phẩm phải được ghi vào trong danh mục của nghiệp hội các nhà xuất bản và phải có thêm ghi chú copyright để 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được bảo vệ. Phương pháp này được đưa vào ứng dụng tại Mỹ vào năm 1795 (yêu cầu phải ghi vào danh mục được bãi bỏ tại Anh vào năm 1956 và tại Hoa Kỳ vào năm 1978).
Ý tưởng về sở hữu trí tuệ phần lớn được giải thích bằng thuyết về quyền tự nhiên (tiếng Anh: natural law). Tại Pháp một Propriété littéraire et artistique (sở hữu văn học và nghệ thuật) được đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1791 và 1793. Tại nước Phổ một bảo vệ tương tự cũng được đưa ra vào năm 1837. Cũng vào năm 1837 Hội đồng liên bang của Liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm, thời hạn này được kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời (post mortem auctoris) vào năm 1845.
Trong Liên minh Bắc Đức việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra vào năm 1857 và được Đế chế Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng sau đó. Trong Đệ tam Đế chế các tác giả chỉ là "người được ủy thác trong nom tác phẩm" cho cộng đồng nhân dân. Khái niệm quyền tác giả Khi một người tạo ra một tác phẩm văn học, âm nhạc, khoa học hay nghệ thuật, thì người đó sẽ trở thành chủ sở hữu của tác phẩm đó và tự do quyết định việc sử dụng nó, những người này được gọi là "nhà sáng tạo", "tác giả " hay "chủ sở hữu quyền" và họ có quyền kiểm soát số phận của tác phẩm. Một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả kể từ thời điểm tác phẩm được ra đời nên không cần tiến hành thủ tục gì, như đăng ký hoặc nộp lưu chiểu, để tác phẩm đó có điều kiện được bảo hộ.
Bản thân các ý tưởng thì không được bảo hộ mà chỉ bảo hộ cách thức mà chúng được thể hiện. Quyền tác giả - một bộ phận quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ - có đối tượng là một loại tài sản đặc biệt, là những sản phẩm trí tuệ có đặc tính chung là trừu tượng và vô hình (không giống với đối tượng của quyền sở hữu là tài sản hữu hình). Theo một cách chung nhất, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa quyền tác giả như sau: "Quyền tác giả là một thuật ngữ pháp lý chỉ quyền của người sáng tác đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ" [38]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyền tác giả là sự bảo hộ pháp lý dành cho chủ sở hữu các quyền đối với một tác phẩm nguyên gốc mà người đó tạo ra.
Quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh: copyright) là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này. Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) thí dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này. Một phần người ta cũng nói đó là sở hữu trí tuệ (intellectual property), vì thế việc bảo vệ sở hữu vật chất và sở hữu trí tuệ phải đi đôi với nhau.
Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm được ghi giữ lại ít nhất là một lần trên một phương tiện lưu trữ. Quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất. Quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền chính: các quyền kinh tế và các quyền tinh thần - quyền nhân thân. Quyền tài sản là quyền của tác giả cho phép người khác khai thác tác phẩm của mình và hưởng lợi ích vật chất từ việc khai thác đó.
Theo thông lệ và tập quán quốc tế thì quyền tài sản của tác giả được thực hiện thông qua việc cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình đã được bảo hộ bằng Luật Quyền tác giả. Pháp luật các quốc gia trên thế giới cũng như pháp luật quốc tế, hầu hết đề ghi nhận rằng tác giả có quyền cho phép hoặc ngăn cấm người khác thực hiện các công việc cụ thể liên quan tới tác phẩm như sao in tác phẩm, trình diễn trước công chúng, phát thanh hoặc truyền tải tới công chúng qua các phương tiện thông tin đại chúng, dịch tác phẩm, chuyển thể tác phẩm… Quyền nhân thân trong quyền tác giả được thực hiện để giữ mối quan hệ cá nhân giữa tác giả với tác phẩm. Quyền nhân thân này còn được sử dụng với tên gọi quyền tinh thần và bao gồm: quyền được đòi hỏi xác định chặt chẽ mối quan hệ giữa tác giả với tác phẩm; quyền được phản đối bất kỳ sự sửa đổi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc bóp méo, xuyên tác tác phẩm; quyên lên án, tố các những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tác phẩm, làm phương hại thanh danh, tiếng tăm của tác giả. Quyền nhân thân được xem là độc lập với quyền tài sản và nói chung vẫn được dành cho tác giả, kể cả sau khi tác giả đã chuyển giao quyền của mình cho tổ chức, cá nhân khác Cả hai nhóm quyền này thuộc về người sáng tạo ra tác phẩm - người có thể thực hiện các quyền đó.
Thực hiện các quyền có nghĩa là anh ta có thể tự mình sử dụng tác phẩm hoặc cho phép người khác sử dụng tác phẩm hoặc cấm người khác sử dụng tác phẩm của mình. Nguyên tắc chung là các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả không thể được sử dụng khi không được phép của chủ sở hữu quyền. Tuy nhiên, có một số ít ngoại lệ được thể hiện trong luật bản quyền của các quốc gia. Theo nguyên tắc, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và tối thiểu 50 năm sau khi tác giả qua đời.