Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bến Tre sở hữu hơn 180.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm gần 80% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, nổi danh với hơn 70.000 ha dừa chuyên canh cùng nguồn tài nguyên trái cây nhiệt đới phong phú. Dù sở hữu tiềm năng kinh tế vượt trội với hơn 3.813 doanh nghiệp và 50.000 hộ kinh doanh cá thể, hoạt động xác lập, quản lý và khai thác tài sản trí tuệ đối với các nông sản đặc sản tại địa phương vẫn đối diện nhiều rào cản nghiêm trọng. Việc bảo vệ thương hiệu nông sản chưa tương xứng với quy mô phát triển, dẫn tới nguy cơ bị xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, suy giảm danh tiếng làng nghề và thất thoát giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa các quy định pháp luật thực định, phân tích toàn diện thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể tại Bến Tre; từ đó chỉ rõ các rào cản pháp lý, quản trị và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian kinh tế tại 09 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh Bến Tre, tập trung vào chuỗi dữ liệu thực chứng giai đoạn 2011 - 2017 và cập nhật tình hình cấp văn bằng bảo hộ đến năm 2018. Về mặt học thuật và thực tiễn, công trình đóng góp cơ sở dữ liệu xác đáng giúp tối ưu hóa hiệu quả bảo hộ cho 14 nhãn hiệu tập thể và 02 chỉ dẫn địa lý cốt lõi, gia tăng năng lực cạnh tranh cho 57.000 tấn bưởi Da Xanh, gần 8.000 ha dừa Xiêm Xanh, tạo tiền đề nâng cao thu nhập ổn định cho 64,5% lực lượng lao động toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết quyền tài sản vô hình trong kinh tế luật học và Khung quản trị tài sản trí tuệ chuỗi giá trị theo tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) và Hiệp định TRIPS thuộc WTO. Các lý thuyết này khẳng định tài sản trí tuệ là nguồn lực kinh tế đặc thù có khả năng thương mại hóa, chuyển nhượng và tạo lập giá trị thặng dư bền vững cho cộng đồng sản xuất địa phương thông qua 46 điều khoản của Công ước Paris 1883 và 08 mục tiêu chuẩn tối thiểu của Hiệp định TRIPS.

Khung khái niệm trọng tâm bao gồm:

  • Chỉ dẫn địa lý (Điều 4 và Điều 79 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009): Dấu hiệu nhận biết sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý cụ thể, có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện tự nhiên và con người quyết định.
  • Nhãn hiệu tập thể (Điều 4 và Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ): Nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên thuộc tổ chức tập thể chủ sở hữu với các chủ thể bên ngoài.
  • Cơ chế xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 124, 125, 129 và 198 Luật Sở hữu trí tuệ): Xác định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, quyền của chủ sở hữu và hệ thống chế tài hành chính theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP, dân sự và hình sự.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ Cục Sở hữu trí tuệ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bến Tre cùng các báo cáo khảo sát thực địa từ 14 hợp tác xã, hiệp hội làng nghề trên địa bàn.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 964 đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và 14 hồ sơ đăng ký nhãn hiệu tập thể của địa phương trong giai đoạn 2011 - 2017. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích đối với 200 lượt đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng 90 hợp tác xã nông nghiệp tham gia các chương trình đào tạo, hội thảo sở hữu trí tuệ để đánh giá mức độ am hiểu và kỹ năng thực thi pháp luật.

Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp thống kê mô tả nhằm đối chiếu chặt chẽ giữa các quy định của pháp luật thực định với số liệu cấp văn bằng thực tế (554 văn bằng được cấp trên 964 đơn nộp). Việc kết hợp này cho phép nhận diện chính xác khoảng cách giữa chính sách hỗ trợ và năng lực duy trì văn bằng của các chủ thể kinh tế địa phương trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp Bến Tre tăng trưởng nhanh nhưng tỷ lệ được cấp văn bằng còn thấp. Trong giai đoạn 2011 - 2017, toàn tỉnh nộp 964 đơn đăng ký nhãn hiệu trong nước nhưng chỉ có 554 văn bằng được cấp bảo hộ, đạt tỷ lệ 57,47%. Tỷ lệ cấp văn bằng có xu hướng suy giảm rõ rệt, từ mức 97,03% năm 2011 (98 bằng/101 đơn) xuống chỉ còn 45,35% vào năm 2017 (78 bằng/172 đơn). Số lượng doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu của Bến Tre đứng vị trí 5 trên 13 tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thấp hơn đáng kể so với Long An (3.907 đơn), Cần Thơ (2.135 đơn) hay An Giang (1.413 đơn).

Thứ hai, Bến Tre đã đạt được bước ngoặt lớn trong việc xác lập quyền cho các nông sản chủ lực nhưng số lượng còn quá ít so với tiềm năng. Ngày 26/01/2018, Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định số 297/QĐ-SHTT và Quyết định số 298/QĐ-SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý "Bến Tre" cho sản phẩm Bưởi Da Xanh và Dừa Xiêm Xanh trên phạm vi 09 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố. Bên cạnh đó, tỉnh đã hỗ trợ cấp 14 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể cho các đặc sản như bánh phồng Sơn Đốc, nghêu Rạng Đông, cây giống Cái Mơn, lúa sạch Thạnh Phú.

Thứ ba, công tác quản trị và duy trì hiệu lực tài sản trí tuệ sau bảo hộ bộc lộ nhiều lỗ hổng nghiêm trọng. Có 2 trên 14 nhãn hiệu tập thể (chiếm tỷ lệ 14,28%) đã hết thời hạn hiệu lực 10 năm nhưng các hợp tác xã không làm thủ tục gia hạn, dẫn đến việc bị chấm dứt bảo hộ gồm: Nhãn hiệu tập thể Bánh tráng Mỹ Lồng (hết hạn ngày 12/6/2012) và Nhãn hiệu tập thể Cây giống Hòa Nghĩa (hết hạn ngày 31/12/2013).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ nhận thức pháp luật hạn chế của các chủ thể quản lý hợp tác xã và hộ sản xuất kinh doanh thủ công. Phần lớn các hợp tác xã chỉ quan tâm đến việc nộp đơn xác lập quyền ban đầu nhờ nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước, nhưng hoàn toàn thiếu chiến lược khai thác thương mại và quản trị vòng đời thương hiệu sau khi được cấp bằng. Ban chủ nhiệm hợp tác xã chưa bố trí được nhân sự chuyên trách, thiếu kỹ năng quản lý và ngân sách duy trì.

So sánh với các địa phương có tỷ lệ cấp bằng cao như Cà Mau (77,45%) hay An Giang (64,40%), Bến Tre thiếu sự đồng bộ trong quy chế kiểm soát chất lượng nội bộ. Điển hình là sau khi được cấp văn bằng bảo hộ cho 02 chỉ dẫn địa lý Bưởi Da Xanh và Dừa Xiêm Xanh vào đầu năm 2018, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh vẫn chưa ban hành kịp thời bộ quy chế quản lý và cấp quyền sử dụng cụ thể cho người dân.

Trong quá trình phân tích, bức tranh tổng thể về tài sản trí tuệ tại địa phương được lượng hóa chi tiết qua bảng thống kê so sánh đối chiếu giữa 13 tỉnh thành Tây Nam Bộ và biểu đồ xu hướng thể hiện tương quan giữa số đơn nộp và số bằng cấp thực tế qua 7 năm. Sự phân hóa dữ liệu phản ánh rõ nét nhu cầu cấp bách phải chuyển từ tư duy đăng ký sang tư duy quản trị thương hiệu toàn diện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và năng lực quản trị tài sản trí tuệ trong khối kinh tế tập thể. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh định kỳ tổ chức tối thiểu 04 lớp tập huấn chuyên sâu mỗi năm về quy trình xác lập, bảo vệ và thương mại hóa nhãn hiệu tập thể. Mục tiêu đặt ra là 100% cán bộ quản lý hợp tác xã và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông nghiệp trên địa bàn nắm vững quy chế sử dụng nhãn hiệu và quy trình gia hạn văn bằng định kỳ trước năm 2020.

Thứ hai, hoàn thiện khung pháp lý và quy chế vận hành chỉ dẫn địa lý địa phương. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cần chỉ đạo ban hành ngay Quy chế quản lý, cấp và thu hồi quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho 02 sản phẩm Dừa Xiêm Xanh và Bưởi Da Xanh trong vòng 06 tháng. Đồng thời, thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng độc lập, gắn tem điện tử truy xuất nguồn gốc QR code cho tối thiểu 80% sản lượng nông sản mang chỉ dẫn địa lý lưu thông trên thị trường.

Thứ ba, thiết lập quỹ hỗ trợ kinh phí phục hồi và duy trì văn bằng sở hữu công nghiệp. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cần bổ sung định mức hỗ trợ 100% lệ phí gia hạn văn bằng từ Dự án nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa cho 14 hợp tác xã đã được cấp nhãn hiệu tập thể. Khẩn trương hỗ trợ Hợp tác xã Bánh tráng Mỹ Lồng và Hợp tác xã Cây giống Hòa Nghĩa nộp đơn đăng ký xác lập lại quyền sở hữu công nghiệp trong giai đoạn 2018 - 2019.

Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và liên kết chuỗi giá trị nông sản. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Công Thương xây dựng kênh phân phối chuẩn hóa cho các đặc sản mang nhãn hiệu tập thể, kết nối 50.000 hộ kinh doanh vào các chuỗi bán lẻ hiện đại. Phấn đấu gia tăng từ 20% đến 30% giá trị thương mại và kim ngạch xuất khẩu cho các sản phẩm nông sản chủ lực mang thương hiệu Bến Tre đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố): Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy chế quản lý chỉ dẫn địa lý, hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ và nâng cao hiệu quả thanh tra, xử lý vi phạm sở hữu công nghiệp trên địa bàn 09 huyện, thành phố.

Nhóm Hợp tác xã, Hiệp hội ngành nghề và Hội Nông dân: Giúp ban lãnh đạo hợp tác xã nắm rõ quy trình đăng ký, các bước xây dựng quy chế sử dụng, cách thức vận hành và thời hạn gia hạn định kỳ cho 14 nhãn hiệu tập thể, tránh rủi ro mất quyền sở hữu trí tuệ sau chu kỳ 10 năm bảo hộ.

Nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể: Cung cấp định hướng xây dựng chiến lược thương hiệu gắn liền với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể, giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả diện tích 70.000 ha dừa và vùng chuyên canh cây ăn trái để gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu.

Nhóm nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế: Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng phong phú với 964 hồ sơ đăng ký nhãn hiệu và hệ thống phân tích đối chiếu chuyên sâu về pháp luật sở hữu trí tuệ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam thuộc quyền sở hữu của chủ thể nào và có thời hạn bảo hộ bao lâu? Theo Điều 88 và Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước trao quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm tại địa phương tương ứng. Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn trên toàn lãnh thổ Việt Nam kể từ ngày cấp, điển hình như văn bằng chỉ dẫn địa lý Bưởi Da Xanh và Dừa Xiêm Xanh Bến Tre cấp năm 2018.

Vì sao một số nhãn hiệu tập thể tại Bến Tre bị mất hiệu lực bảo hộ sau khi đã được cấp bằng? Theo quy định pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể gia hạn liên tiếp. Tuy nhiên, trong thực tế tại Bến Tre, Hợp tác xã Bánh tráng Mỹ Lồng (hết hạn ngày 12/6/2012) và Hợp tác xã Cây giống Hòa Nghĩa (hết hạn ngày 31/12/2013) đã không tiến hành thủ tục gia hạn do ban quản trị thiếu hiểu biết pháp luật và thiếu kinh phí duy trì.

Doanh nghiệp và hợp tác xã tại Bến Tre nhận được những hỗ trợ tài chính cụ thể nào khi xác lập quyền sở hữu công nghiệp? Thông qua các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp và Dự án nâng cao năng suất chất lượng giai đoạn 2013 - 2020, tỉnh Bến Tre đã hỗ trợ 100% kinh phí đăng ký nhãn hiệu trong nước cho 35 tổ chức, cá nhân và hỗ trợ phí đăng ký nhãn hiệu tại thị trường Mỹ cho 01 doanh nghiệp với kinh phí trên 40 triệu đồng, đồng thời đài thọ toàn bộ kinh phí xây dựng 14 nhãn hiệu tập thể.

Hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ? Căn cứ Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm bao gồm: Sử dụng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng đặc thù dù có xuất xứ từ vùng địa lý đó; sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây hiểu nhầm về nguồn gốc xuất xứ; hoặc lợi dụng danh tiếng chỉ dẫn địa lý để kinh doanh hàng hóa tương tự trên thị trường.

Nhãn hiệu tập thể khác với chỉ dẫn địa lý như thế nào về mặt chủ thể quyền? Nhãn hiệu tập thể thuộc sở hữu của một tổ chức tập thể hợp pháp như hợp tác xã hoặc hiệp hội ngành nghề để các thành viên sử dụng theo quy chế nội bộ. Ngược lại, chỉ dẫn địa lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và trực tiếp quản lý, phân quyền sử dụng cho mọi chủ thể đáp ứng đủ điều kiện địa lý và tiêu chuẩn kỹ thuật trên địa bàn 09 huyện, thành phố.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý thực định về xác lập, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và các điều ước quốc tế.
  • Phân tích chi tiết thực trạng sở hữu công nghiệp tại Bến Tre giai đoạn 2011 - 2017 với 964 đơn đăng ký nhãn hiệu (554 bằng được cấp, đạt 57,47%), 14 nhãn hiệu tập thể và 02 chỉ dẫn địa lý quan trọng được công nhận vào năm 2018.
  • Chỉ rõ các nút thắt then chốt trong công tác quản lý sau cấp bằng, đặc biệt là tình trạng 14,28% nhãn hiệu tập thể bị chấm dứt hiệu lực do không gia hạn và sự chậm trễ ban hành quy chế vận hành chỉ dẫn địa lý cấp tỉnh.
  • Đề xuất hệ thống 04 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với lộ trình cụ thể từ năm 2018 đến năm 2020 nhằm hoàn thiện thể chế quản lý, hỗ trợ tài chính phục hồi văn bằng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho 180.000 ha nông nghiệp Bến Tre.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo học thuật và cẩm nang thực thi pháp lý có giá trị thực tiễn cao cho các cơ quan quản lý, hợp tác xã và doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Các cơ quan quản lý và hiệp hội ngành nghề tại Bến Tre cần khẩn trương phối hợp triển khai ngay quy chế quản lý chỉ dẫn địa lý và rà soát thủ tục gia hạn văn bằng bảo hộ nhằm bảo toàn trọn vẹn giá trị tài sản trí tuệ địa phương.