Tổng quan nghiên cứu

Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp mà hầu hết các quốc gia phải đối mặt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu và hội nhập kinh tế toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), số người thất nghiệp trên toàn cầu từng vượt mốc 203,2 triệu người và có xu hướng gia tăng nhanh chóng; tại Việt Nam, tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn trước đây từng ghi nhận ở mức khoảng 3,1%. Nhận thức rõ tầm quan trọng của lưới an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 và sau đó được chuyển đổi căn bản sang khuôn khổ Luật Việc làm năm 2013. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tiễn ghi nhận nhiều bất cập như tình trạng doanh nghiệp nợ đọng tiền đóng BHTN, người lao động trục lợi chính sách, cùng việc mất cân đối giữa chi trả trợ cấp tiền mặt và hỗ trợ đào tạo nghề.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Lê Nguyễn Việt Hà (Đại học Quốc gia Hà Nội) tập trung nghiên cứu toàn diện cơ chế điều chỉnh pháp luật về BHTN theo Luật Việc làm năm 2013. Mục tiêu cụ thể của đề tài là làm sâu sắc các luận cứ lý luận, phân tích thực trạng pháp lý và đánh giá hiệu quả thi hành chính sách trong giai đoạn 2015-2020 trên phạm vi cả nước. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội cho hơn 12 triệu người lao động tham gia bảo hiểm, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị quỹ an sinh quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết an sinh xã hội (Social Security Theory) và Lý thuyết quản trị rủi ro thị trường lao động (Labor Market Risk Governance). Mô hình nghiên cứu vận hành theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro ba bên giữa Nhà nước, Người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Người lao động (NLĐ), vận dụng cơ chế số đông bù số ít nhằm bảo đảm cân đối thu chi dài hạn.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo quy định pháp luật hiện hành và các chuẩn mực quốc tế:

  • Bảo hiểm thất nghiệp: Chế độ an sinh bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi mất việc làm, hỗ trợ học nghề, duy trì và tìm kiếm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN (Khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013).
  • Trợ cấp thất nghiệp: Khoản tiền chi trả định kỳ hàng tháng nhằm duy trì mức sống tối thiểu cho người lao động mất việc không tự nguyện.
  • Quỹ bảo hiểm thất nghiệp: Quỹ tài chính tập trung, độc lập ngoài ngân sách nhà nước, được hình thành từ nguồn đóng góp của các bên và sự bảo trợ của Nhà nước.
  • Tiêu chuẩn an sinh quốc tế: Công ước số 102 (1952) của ILO quy định mức hưởng trợ cấp không thấp hơn 45% thu nhập trước đó trong thời gian tối thiểu 13 tuần; Công ước số 168 (1988) nâng chuẩn hưởng lên 50% thu nhập trong 26 tuần và mở rộng diện bảo vệ cho ít nhất 85% người làm công ăn lương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Cục Việc làm cùng các dữ liệu thống kê chuỗi thời gian từ năm 2009 đến năm 2018. Khung pháp lý khảo sát bao gồm Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Việc làm năm 2013, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP và các điều ước quốc tế liên quan.

Về phương pháp phân tích, luận văn kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, thống kê mô tả, quy nạp, diễn dịch và so sánh luật học với mô hình bảo hiểm việc làm tại Nhật Bản và Đức. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm thất nghiệp với hơn 12 triệu lao động tham gia đóng bảo hiểm và hàng trăm nghìn hồ sơ hưởng chế độ đến tháng 11/2018. Phương pháp chọn mẫu thứ cấp toàn phần theo chuỗi thời gian được lựa chọn vì tính bao quát cao, bảo đảm tính xác thực khi đánh giá tác động thực tế của chính sách và đối chiếu trực tiếp sự thay đổi giữa Luật Bảo hiểm xã hội 2006 với Luật Việc làm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện quan trọng trong bức tranh thực thi pháp luật BHTN tại Việt Nam:

Thứ nhất, diện bao phủ đối tượng tham gia tăng trưởng liên tục. Tính đến tháng 9/2018, số người tham gia BHTN đạt hơn 12 triệu người, tăng trưởng vượt bậc so với giai đoạn đầu năm 2009. Cơ chế thu 1% quỹ tiền lương từ NLĐ, 1% từ NSDLĐ và ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 1% đã tạo lập nguồn quỹ kết dư an toàn, duy trì số dư hàng năm gấp 2 lần tổng chi các chế độ theo luật định.

Thứ hai, tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các chế độ an sinh. Thống kê đến tháng 11/2018 cho thấy trên 90% tổng chi quỹ BHTN tập trung vào chi trả trợ cấp thất nghiệp bằng tiền mặt (mức hưởng 60% mức bình quân tiền lương 6 tháng liền kề). Ngược lại, số người tiếp cận chế độ hỗ trợ học nghề và đào tạo duy trì việc làm chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp, dưới 5% tổng số người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp.

Thứ ba, cơ chế tính thời gian hưởng theo Luật Việc làm 2013 tạo sự công bằng hơn nhưng phát sinh bất cập mới. Quy định đóng đủ 12 đến 36 tháng được hưởng 3 tháng trợ cấp (thay vì 6 tháng như Luật BHXH 2006) giúp giảm áp lực chi ngắn hạn. Tuy nhiên, quy định bảo lưu tháng lẻ trên 36 tháng vẫn gây khó khăn cho việc theo dõi hồ sơ của người lao động chuyển đổi nhiều nơi làm việc.

Thứ tư, tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHTN và gian lận chính sách diễn biến phức tạp. Tại một số địa phương trọng điểm kinh tế, hàng nghìn lao động đã có việc làm mới hoặc tự ý nghỉ việc trái luật nhưng vẫn nộp hồ sơ trục lợi khoản trợ cấp 60% lương trong thời gian 15 ngày chờ xét duyệt.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ nhận thức của NLĐ về chính sách học nghề còn hạn chế, các trung tâm dịch vụ việc làm chưa có danh mục nghề phong phú gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường. Bên cạnh đó, chế tài xử phạt hành vi nợ đóng bảo hiểm của NSDLĐ chưa đủ sức răn đe, cơ chế kết nối dữ liệu giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội và Trung tâm Dịch vụ việc làm 63 tỉnh thành chưa hoàn toàn liên thông thời gian thực.

So sánh quốc tế mang lại nhiều giá trị đối chiếu:

  • Tại Nhật Bản: Luật Bảo hiểm việc làm mở rộng bảo vệ người lao động tới 65 tuổi, mức trợ cấp dao động từ 90 đến 330 ngày với tỷ lệ thay thế lương lên tới 80% đối với nhóm thu nhập thấp, kết hợp chính sách phòng ngừa sa thải ngay khi doanh nghiệp gặp khó khăn.
  • Tại Đức: Mức đóng bảo hiểm 6,5% tiền lương chia đều 50-50 giữa chủ và thợ, mức hưởng đạt 60% đến 67% thu nhập thực tế và bảo đảm quyền lợi bình đẳng cho cả người lao động nước ngoài làm việc hợp pháp.

Để trực quan hóa các phát hiện, dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn thông qua Biểu đồ 2.1 (Tăng trưởng người tham gia BHTN giai đoạn 2009-2018), Biểu đồ 2.4 (Cơ cấu chi trả 03 chế độ BHTN thể hiện sự chênh lệch giữa trợ cấp tiền mặt và học nghề), cùng Bảng tổng hợp đối chiếu 4 điều kiện hưởng trợ cấp theo Luật Việc làm 2013.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật BHTN, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật về đối tượng tham gia: Mở rộng diện bao phủ bắt buộc đối với hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên và nghiên cứu lộ trình thí điểm cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; đặt mục tiêu nâng độ bao phủ BHTN đạt 35% đến 40% lực lượng lao động vào năm 2025; cơ quan thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trình Quốc hội sửa đổi luật.

  2. Cải cách chế độ hỗ trợ học nghề và duy trì việc làm: Nâng mức hỗ trợ học phí học nghề từ mức cố định lên mức tương đương 70% đến 80% chi phí đào tạo thực tế của cơ sở nghề; kéo dài thời gian hỗ trợ tối đa từ 6 tháng lên 9-12 tháng cho các ngành kỹ thuật công nghệ cao; lộ trình triển khai trong giai đoạn 2021-2023; cơ quan thực hiện: Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp phối hợp Cục Việc làm.

  3. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số liên thông quốc gia: Thiết lập phần mềm quản lý tích hợp trực tuyến giữa 63 Trung tâm Dịch vụ việc làm và hệ thống Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; cắt giảm thời gian thẩm định hồ sơ từ 15 ngày xuống còn 7 đến 10 ngày làm việc; hạn chế triệt để tình trạng vừa đi làm vừa hưởng trợ cấp; hoàn thành mục tiêu số hóa trước năm 2024; cơ quan thực hiện: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.

  4. Tăng cường thanh tra chuyên ngành và nâng mức xử phạt: Tăng mức phạt tiền đối với hành vi trốn đóng, nợ đọng tiền BHTN lên gấp 2 đến 3 lần mức hiện hành; kiên quyết chuyển hồ sơ xử lý hình sự theo Điều 216 Bộ luật Hình sự đối với các doanh nghiệp cố tình vi phạm kéo dài; cơ quan thực hiện: Thanh tra ngành Lao động phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Cục Việc làm tìm thấy cơ sở lý luận và dữ liệu thực chứng tin cậy để phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Việc làm và hoàn thiện Nghị định số 28/2015/NĐ-CP.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật: Tài liệu tham khảo giá trị cho các bộ môn Luật Kinh tế, Luật Lao động và An sinh xã hội với hệ thống so sánh pháp luật chuyên sâu từ Công ước ILO số 102, 168 đến mô hình lập pháp của Nhật Bản và Đức.

  3. Bộ phận pháp chế và nhân sự (HR) tại các doanh nghiệp: Giúp người sử dụng lao động nắm vững nghĩa vụ trích nộp 1% quỹ lương, quy trình xác nhận chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp và các điều kiện bảo toàn quyền lợi BHTN cho nhân viên.

  4. Cán bộ tư vấn tại Trung tâm Dịch vụ việc làm 63 tỉnh/thành: Nắm bắt chuẩn xác quy trình xử lý hồ sơ 4 bước, tối ưu hóa công tác tư vấn giới thiệu việc làm và định hướng học nghề thiết thực cho người lao động mất việc.

Câu hỏi thường gặp

Điều kiện để người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Luật Việc làm 2013 là gì?

Người lao động phải đáp ứng 4 điều kiện: Chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 hoặc 36 tháng trước khi nghỉ việc; nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm trong vòng 3 tháng kể từ ngày nghỉ việc; chưa tìm được việc làm sau 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ.

Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hiện nay được tính như thế nào?

Mức hưởng hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp, tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở hoặc lương tối thiểu vùng. Thời gian hưởng tính theo số tháng đóng: Đóng đủ 12 đến 36 tháng được hưởng 3 tháng trợ cấp, sau đó cứ đóng đủ thêm 12 tháng được hưởng thêm 1 tháng, tối đa không quá 12 tháng.

Điểm khác biệt căn bản giữa Luật Việc làm 2013 và Luật BHXH 2006 về bảo hiểm thất nghiệp là gì?

Luật Việc làm 2013 mở rộng đối tượng NSDLĐ bắt buộc tham gia từ doanh nghiệp có 1 lao động trở lên (trước đây là 10 lao động), bãi bỏ thủ tục đăng ký thất nghiệp rườm rà thay bằng nộp hồ sơ trực tiếp, điều chỉnh mức hỗ trợ ngân sách tối đa 1% thay vì cố định 1%, và quy định lại thời gian hưởng trợ cấp tối đa 12 tháng bảo đảm công bằng tài chính.

Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp không?

Theo quy định tại Điều 43 Luật Việc làm 2013, đối tượng tham gia BHTN bắt buộc chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên có giao kết hợp đồng lao động hợp pháp. Người lao động nước ngoài hiện chưa thuộc diện tham gia BHTN bắt buộc, dù vẫn tham gia các chế độ BHXH và BHYT khác.

Tại sao tỷ lệ người lao động tham gia học nghề từ quỹ BHTN lại chiếm tỷ lệ rất thấp?

Nguyên nhân chủ yếu do mức hỗ trợ học nghề thực tế còn thấp chưa đủ trang trải chi phí các khóa đào tạo chuyên sâu, danh mục nghề tại các trung tâm chưa sát với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, và người thất nghiệp có tâm lý ưu tiên nhận khoản tiền mặt 60% để giải quyết khó khăn chi tiêu trước mắt.

Kết luận

  • Bảo hiểm thất nghiệp là trụ cột an sinh then chốt, bảo vệ nguồn thu nhập cho người lao động và duy trì sự ổn định thị trường lao động.
  • Luật Việc làm năm 2013 đã tạo bước tiến quan trọng khi mở rộng đối tượng người sử dụng lao động từ 1 lao động trở lên tham gia đóng quỹ.
  • Thực tiễn thi hành vẫn tồn tại sự mất cân đối lớn khi trên 90% nguồn chi tập trung vào trợ cấp tiền mặt, trong khi đào tạo nghề đạt dưới 5%.
  • Kinh nghiệm quốc tế từ Đức và Nhật Bản cung cấp giải pháp quý báu về quản trị quỹ, kéo dài độ tuổi bảo hiểm và phòng ngừa thất nghiệp chủ động.
  • Hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ với chuyển đổi số liên thông 63 tỉnh thành là giải pháp đột phá cho giai đoạn 2021-2025.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Nguyễn Việt Hà là công trình nghiên cứu công phu, đóng góp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn vững chắc cho sự phát triển của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn tại thư viện Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội để tìm hiểu chi tiết các luận điểm khoa học chuyên sâu.