Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 1. Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp hiểu theo nghĩa chung nhất là một chế độ ASXH của Nhà nước, được lập ra theo quy định pháp luật nhằm đầu tư xây dựng quỹ bảo hiểm để giúp đỡ về vật chất đối với người thất nghiệp tạm thời mất thu nhập, góp phần bảo đảm cuộc sống cơ bản cho người thất nghiệp, đồng thời thông qua các biện pháp bồi dưỡng, giới thiệu việc làm giúp người thất nghiệp trở lại thị trường lao động. Dưới góc độ kinh tế, BHTN được hiểu là sự đóng góp của người lao động trong quá trình thực hiện quan hệ lao động để hưởng một khoản trợ cấp khi mất việc.
Dưới góc độ xã hội, BHTN là một quyết sách của Nhà nước áp dụng đối với người lao động khi họ bị mất việc để giải quyết các khó khăn về mặt kinh tế, giúp người lao động có thể thiết lập một quan hệ lao động mới. Dưới góc độ pháp lý, BHTN được hiểu là công cụ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, tìm kiếm việc làm, duy trì việc làm trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHTN2. Ở Việt Nam, BHTN được hiểu là biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới. Dưới góc độ pháp lý, BHTN có một số điểm cần lưu ý: 2 Điều 3 Luật Việc làm 2013.
12 - Mức hỗ trợ thu nhập cho người hưởng TCTN dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị thất nghiệp. - Người tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao động. Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định. Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN.
Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp BHTN là một bộ phận của BHXH. Chính vì thế, BHTN vừa mang những đặc điểm chung của BHXH, vừa có những đặc điểm riêng. Thứ nhất, đối tượng tham gia BHTN hay chủ thể tham gia BHTN gồm: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Sự tham gia của các đối tượng này là sự đóng góp về vật chất để khi có các sự kiện pháp lý phát sinh thì người lao động sẽ là người được thụ hưởng.
Người lao động là đối tượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhưng họ luôn là đối tượng yếu thế và chịu nhiều thiệt thòi, đặc biệt là sự bất bình đẳng trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động. Khi xảy ra biến động về kinh tế xã hội, người lao động sẽ là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với nguy cơ mất việc làm và tổn thất về thu nhập. Vì thế, người lao động luôn là đối tượng chính và được quan tâm bảo đảm quyền lợi hàng đầu của BHTN. Tuy nhiên, chỉ những người lao động tham gia đóng BHTN và đảm bảo các điều kiện theo quy định thì mới được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTN khi thất nghiệp.
13 Người sử dụng lao động, tuy là đối tượng tham gia đóng BHTN với mức đóng tương đương với người lao động nhưng không phải là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp từ các chế độ của BHTN. Thông qua việc tham gia đóng BHTN, người sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm của mình đối với người lao động và góp phần làm tăng quy mô của BHTN. Chính điều đó tạo ra sự gắng bó mật thiết hơn giữa người lao động và người sử dụng lao động, tao cho người lao động tâm lý làm việc tốt hơn, qua đó năng suất lao động cũng được cải thiện, từ đó mang lại những lợi ích gián tiếp cho người sử dụng lao động. Nhà nước cũng là đối tượng đóng vai trò quan trọng với việc hỗ trợ một khoản tài chính tương đương với mức đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động để góp phần xây dựng nên quỹ BHTN.
Đối với Nhà nước, đảm bảo về việc làm và thu nhập cho người lao động vừa là trách nhiệm, vừa là biện pháp để ổn định và đảm bảo trật tự xã hội. Thứ hai, BHTN là một chính sách của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người lao động bị mất việc và cả đối với người sử dụng lao động. Để thực hiện tốt trách nhiệm này, Nhà nước sử dụng các biện pháp, công cụ chính sách bao gồm các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của những người tham gia BHTN; cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan chức năng; quy định về nguồn tài chính và các chế độ BHTN. Việc tham gia hỗ trợ tài chính vào quỹ BHTN bên cạnh sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động đã thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, xây dựng chính sách và chăm lo cho đời sống của nhân dân.
Nhà nước vừa ban hành chính sách, vừa trở thành đối tượng tham gia chính sách. Điều này giúp cho BHTN được hình thành với quy mô lớn hơn và được triển khai hiệu quả hơn. Với sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước 14 không chỉ góp phần đảm bảo cuộc sống cho người lao động thất nghiệp, tạo cơ hội để họ sớm quay trở lại thị trường lao động mà còn giúp giảm bớt một phần gánh nặng cho người sử dụng lao động trong việc thực hiện trách nhiệm đối với người lao động trong hoàn cảnh khó khăn. Thứ ba, BHTN là một sự hỗ trợ về vật chất nhằm trợ giúp cho người lao động để giải quyết khó khăn tạm thời khi rơi vào tình trạng thất nghiệp.
Khi bị thất nghiệp, đa số người lao động đều rơi vào tình trạng hết sức khó khăn trong việc trang trải cuộc sống do nguồn thu nhập bị mất đi. Chính vì thế trong khoảng thời gian thất nghiệp đó, bản thân người thất nghiệp và gia đình họ rất cần đến sự quan tâm, giúp đỡ từ Nhà nước và xã hội để có thể đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu cuộc sống và yên tâm tìm kiếm công việc mới. Trong hoàn cảnh đó, BHTN đóng một vai trò hết sức cần thiết, được ví như “một chiếc phao cứu sinh” của người thất nghiệp trong lúc khó khăn với các chế độ rất thiết thực, hỗ trợ trực tiếp cho người lao động. Bên cạnh sự hỗ trợ trực tiếp về tài chính thông qua TCTN hàng tháng, người lao động còn được Nhà nước hỗ trợ chi phí đào tạo nghề một cách gián tiếp thông qua các cơ sở đào tạo nghề để giúp người lao động nâng cao tay nghề hoặc chuyển đổi ngành nghề phù hợp.
Ngoài ra, người lao động còn được tư vấn giới thiệu việc làm miễn phí để nhanh chóng tìm được việc làm mới. Tuy nhiên, những khoản hỗ trợ về vật chất thông qua TCTN hàng tháng hay hỗ trợ chi phí đào tạo nghề chỉ mang tính tạm thời và người lao động thất nghiệp chỉ được nhận sự hỗ trợ này trong một thời gian nhất định để có thể vượt qua khó khăn ban đầu. Sau khi được đào tạo, nâng cao tay nghề và tư vấn giới thiệu việc làm, khả năng tìm kiếm việc làm mới của người lao động sẽ cao hơn. Vì thế, đến lúc người lao động có thể tìm được việc làm mới hoặc hết thời gian được hưởng trở cấp theo quy định thì người lao động sẽ không được hưởng sự hỗ trợ về vật chất từ BHTN nữa.
Tác động của bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường 1. Đối với người lao động Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập chủ yếu của người lao động thường gắn với việc làm, vì thế khi không còn việc làm, thu nhập đương nhiên cũng không còn. Khi đó người lao động và gia đình họ có nguy cơ rơi vào cảnh túng thiếu. Để khắc phục tình trạng này, bản thân người lao động phải tích cực tìm chỗ làm việc mới.
Đây là biện pháp khá năng động, có tính cá nhân. Tuy nhiên, không phải ai và lúc nào cũng có thể tìm được việc làm ngay, vì thất nghiệp thường song hành với thời kỳ nền kinh tế bị suy thoái, doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nên khó tạo ra nhiều công việc mới cho người lao động. Để giảm thiểu tác động tiêu cực của thất nghiệp đến đời sống của người lao động, Nhà nước đã ban hành các chính sách, quy định về BHTN để giúp người lao động giải quyết những khó khăn trước mắt và sớm giúp họ gia nhập trở lại thị trường lao động. Người lao động luôn là đối tượng được ưu tiên hàng đầu và cũng là đối tượng được hưởng nhiều lợi ích nhất từ các quy định về BHTN.
Xét về mặt xã hội, BHTN là biện pháp có tính thụ động, nhưng lại có ý nghĩa tích cực đối với từng cá nhân người lao động khi bị thất nghiệp, giúp được họ có một khoản thu nhập bù đắp lại mức thu nhập đã bị mất do bị mất việc làm; tạo điều kiện cho họ sớm quay trở lại thị trường lao động, tránh không bị rơi vào tình cảnh túng quẫn. Vấn đề đặt ra là BHTN được thực hiện như thế nào? Ai là người thuộc đối tượng được hưởng BHTN… Đây là vấn đề không mới đối với các nước có truyền thống kinh tế thị trường, nhưng đối với nước ta, mặc dù pháp luật BHTN đã có hiệu lực, nhưng thực tế thực hiện còn nhiều vấn đề phải bàn luận3. 3 Mạc Văn Tiến (2013), “Mối quan hệ giữa Bảo hiểm thất nghiệp và Bảo hiểm xã hội”, Bảo hiểm xã hội Bộ quốc phòng, http://www.vn/?act=nctd_detail&idnctd=147&date=1385139600, truy cập Thứ tư 10/02/2016. 16 Có thể nóiBHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho người lao động trong thời kỳ họ bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ nhanh chóng tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động.