Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu. chương này sẽ giới thiệu lý do chọn đề tài, tổng quan về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu về cơ sở lý luận, các vấn đề liên quan đến quyết định và dạy nghề cho NLĐ hưởng BHTN.
Các mô hình liên quan đã nghiên cứu trước đó, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu sẽ được tác giả thực hiện để xây dựng, đánh giá thang đo và mô hình lý thuyết về các nhân tố tác động đến quyết định học nghề của NLĐ. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương này giới thiệu tổng quan về thành phố Cần Thơ, trình bày kết quả và thảo luận các kết quả đạt được thông qua việc phân tích số liệu thu thập được. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Chương này nhằm đưa ra những kết luận dựa vào kết quả nghiên cứu đã đạt được và đưa ra các hàm ý quản trị cần thiết cho nhà quản trị và hạn chế của đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm liên quan đến đào tạo nghề cho người lao động hưởng BHTN 2.1 Khái niệm đào tạo nghề.
Đào tạo nghề là thuật ngữ nâng cao chất lượng nguồn lao động. Nói tới chất lượng nguồn lao động có thuật ngữ đào tạo nghề. Thuật ngữ này được hiểu theo nhiều phạm vi khác nhau. Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “đào tạo nghề đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nẵm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định” Có nhiều dạng đào tạo khác nhau: Đào tạo cơ bản; đào tạo chuyên sâu; đào tạo chuyên môn; đào tạo nghề; đào tạo ban đầu; đào tạo lại; đào tạo tập trung và đào tạo tại chức; đào tạo từ xa; đào tạo qua trường lớp và đào tạo tự tạo;… Như vậy, đào tạo nghề là một trong các dạng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình: Dạy nghề và học nghề. Dạy nghề được hiểu theo nghĩa chung là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến người học nghề. Hiểu theo nghĩa đầy đủ, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thạo nhất định về nghề nghiệp. Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học kinh tế Quốc dân thì đào tạo nghề được tác giả trình bày là: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để học có thể đảm nhận được một số công việc nhất định”.
Còn theo Luật Dạy nghề của Quốc hội khóa XI Kỳ họp thứ 10 số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến 7 thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” Như vậy, khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Đều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “Vốn nhân lực”, coi công nhân như là cái máy sản xuất. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỷ luật lao động – một yếu tố vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay. Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nhất định.2 Phân loại đào tạo nghề.
Đào tạo nghề cho người lao động là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn bao gồm cả những người đã có tay nghề, có chuyên môn rồi hay học nghề để có chuyên môn khác. Theo mức độ truyền bá kiến thức nghề có đào tạo nghề mới, đào tạo lại nghề và bồi dưỡng nâng cao tay nghề. Đào tạo mới: là hình thức đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có chuyên môn chưa có nghề. Gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa học được nghề.
Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động có trình độ, tay nghề cao cho xã hội. Vì vậy, đào tạo mới có thể thực hiện ở các cơ sở đào tạo nghề chuyên nghiệp hoặc truyền nghề trong từng cơ sở sản xuất kinh doanh. Đào tạo lại nghề: là quá trình đào tạo nghề áp dụng cho những người đã có nghề, có chuyên môn, song vì yêu cầu mới của nhà sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn, nghề của họ không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải chuyển sang nghề khác, chuyên môn khác. Đào tạo lại nhằm tạo cho NLĐ có cơ hội học một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề.
Vì vậy, đào tạo lại nghề thường được tạo tạo ở các cơ sở đào tạo chuyên, những nơi có đầy đủ phương tiên đào tạo cập nhật các kiến thức mới. 8 Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là quá trình bồi dưỡng, cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các khả năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng cao kiến thức, kinh nghiệm để người lao động có thể đảm nhận những công việc phức tạp hơn. Bồi dưỡng nâng cao tay nghề cũng thường được thực hiện ở các cơ sở đào tạo chuyên môn. Các thuật ngữ trên được sử dụng trường hợp đào tạo nghề cho lao động quản lý và đào tạo nghề cho lao động trực tiếp.
- Xét theo thời gian của đào tạo nghề: Đào tạo ngắn hạn: là thời gian đào tạo nghề dưới một năm, chủ yếu với đối tượng phổ cập nghề. Đào tạo dài hạn: là thời gian đào tạo nghề từ một năm trở lên chủ yếu đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Ở cấp độ của dạy nghề có bằng cao đẳng, trung cấp và chứng chỉ nghề. Ở các nước, trong đó có Việt Nam hệ thống đào tạo chuyên nghiệp về nghề lập thành một hệ thống từ đại học đến bồi dưỡng nghề.
Trong đó đào tạo nghề được xác định từ cao đẳng đến bồi dưỡng nghề. Vì vậy, NLĐ có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình đào tạo nghề đáp ứng với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.3 Các hình thức đào tạo nghề Đào tạo nghề cho lao động hưởng BHTN với đối tượng đa dạng, với nhiều đặc điểm, đặc thù. Vì vậy, là hoạt động rất phong phú và phức tạp, có thể phân thành các hoạt động khác nhau, tùy theo các tiêu chí phân loại có thể phân thành các hình thức đào tạo nghề như sau: Thứ nhất là theo đối tượng: Đào tạo nghề có thể phân thành; Đào tạo nghề cho lao động quản lý: Giám đốc, đốc công, tổ trưởng,… và đào tạo nghề cho lao động gián tiếp: đào tạo nghề cho lao động thất nghiệp. Đào tạo nghề cho lao động quản lý được hiểu theo nghĩa rộng của đào tạo, khi coi quản lý là một nghề của người quản lý; đào tạo nghề thường gắn trực tiếp với người lao động trực tiếp mang tính kỹ thuật như nghề may, nghề pha chế, nghề sửa chữa xe máy,… Thứ hai là theo phương thức: Đào tạo nghề có thể phân thành; dạy nghề và truyền nghề.
Dạy nghề là truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động hưởng BHTN có một trình độ, kỹ 9 năng, kỹ xảo, sự khéo léo và thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Dạy nghề gắn với các tổ chức chuyên hoạt động dạy nghề. Truyền nghề là truyền bá kỹ năng thực hành để những người lao động hưởng BHTN có một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo và thành thục nhất định về nghề nghiệp. Dạy nghề là phương thức đào tạo nghề có tổ chức nên có hệ thống cơ sở vật chất, chương trình đội ngũ giáo viên đào tạo có chất lượng so với các phương thức khác.
Kết quả của việc đào tạo nghề theo phương thức này thường lớn về số lượng có hiệu quả cao về hoạt động đào tạo, đặc biệt người học có thời gian tập trung cho việc học, nên chất lượng học tập cao. Thực tế thì cùng một nghề nhưng áp dụng ở mỗi một lĩnh vực có khác nhau nên đào tạo nghề qua các cơ sở đào tạo không thể đi vào các hoạt động đặc thù của các cơ sở nơi sử dụng lao động cụ thể. Vì vậy mà người lao động được đào tạo nghề sau khi được tuyển dụng thường sau thời gian tập sự mới có thể thích ứng với công việc ở chính nghề được đào tạo. Truyền nghề là phương thức đào tạo nghề của từng cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong các gia đình làm nghề thủ công truyền thống.
Truyền nghề có ưu điểm là nội dung đào tạo nghề rất sát với môi trường và tính chất nghề đó được hoạt động, bởi vì NLĐ được đào tạo các nghề chuyên sâu mà người đó sẽ làm ngay ở chính cơ sở đào tạo. Tuyên nhiên, thì truyền nghề diễn ra với quy mô nhỏ. vì vậy, xét trên khía cạnh của đào tạo nghề thì hiệu quả truyền nghề không cao.2 Người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp.1 Khái niệm thất nghiệp. Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.