Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm thất nghiệp: Thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm 1.2 Nguyên nhân thất nghiệp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế. Có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp sau: - Chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi - Sự gia tăng dân số, tăng nguồn cung lao động cùng với quá trình quốc tế hóa và hội nhập cũng khiến nguy cơ thất nghiệp cao hơn. - Nguyên nhân từ người lao động - Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề - Sự ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nền kinh tế - Do các yếu tố thị trường - Một số nguyên nhân khác 1.3 Bảo hiểm thất nghiệp: Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Căn cứ theo Luật Việc Làm năm 2015 và Nghị định số 28/2015/ NĐ – CP thì các chế độ hỗ trợ của BHTN bao gồm: 1.Trợ cấp thất nghiệp , Bảo hiểm y tế 2.
Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm. Hỗ trợ học nghề 15 2. Sử dụngcách tiếp cận vai trò của An sinh xã hội * Đối với xã hội Thứ nhất: Hệ thống ASXH là một trong những cấu phần quan trọng trong các chương trình xã hội của một quốc gia và là công cụ quản lý của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và các chương trình ASXH. Mục đích của nó là giữ gìn sự ổn định về xã hội - kinh tế - chính trị của đất nước, đặc biệt là ổn định xã hội, giảm bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội; tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển.
ASXH còn là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính sách xã hội. Nó hướng đến bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân, bảo vệ giá trị cơ bản và là thước đo trình độ phát triển của một nước trong quá trình phát triển và hội nhập. Thứ hai: Bảo đảm ASXH là nền tảng của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thông qua việc áp dụng các cơ chế điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế và các nhóm dân cư, ASXH có thể được coi như là một giá đỡ đảm bảo thu nhập cho người dân.
Hệ thống chính sách ASXH được thiết kế trên cơ sở các nguyên tắc công bằng, đoàn kết ở các mức độ khác nhau còn thể hiện giá trị và định hướng phát triển của một quốc gia. Cách thức thiết kế hệ thống ASXH chính là sự thể hiện mô hình phát triển xã hội, quan điểm lựa chọn đầu tư cho con người. Thứ ba: Hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thông qua việc "điều hoà”các "mâu thuẫn xã hội", đảm bảo xã hội không có sự loại trừ, điều tiết tốt hơn và hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và bất ổn định xã hội. 16 Nhà nước thông qua chính sách ASXH để cân đối, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; mở rộng chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư.
Thông qua việc hoạch định và thực hiện chính sách ASXH, cho phép các Chính phủ tiến hành lựa chọn mục tiêu tăng trưởng hiệu quả và bền vững. Một hệ thống ASXH lâu dài, đầy đủ có thể thực hiện mọi mục tiêu tái phân phối của xã hội, giải phóng các nguồn lực trong dân cư. * Đối với các gia đình Nếu một hệ thống ASXH được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho các gia đình đầu tư tốt hơn cho tương lai. Trong vai trò này, hệ thống ASXH cơ bản là khắc phục các rủi ro trong tương lai, cho phép các gia đình tiếp cận đến được các cơ hội để phát triển.
Hệ thống ASXH còn góp phần hỗ trợ cho các gia đình quản lý được rủi ro. Thông qua các chương trình ASXH, ít nhất nó cũng giúp cho các gia đình đương đầu được với những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống. ASXH còn là một yếu tố bảo hiểm, cho phép các gia đình được lựa chọn sinh kế để phát triển. Như vậy, hệ thống ASXH vừa bảo vệ cho các thành viên trong xã hội vừa nâng cao khả năng tồn tại độc lập của họ trong cuộc sống [3] 2.
Lý thuyết hành động xã hội Dựa vào động cơ (cái thúc đẩy có ý thức) của hành động xã hội , Max Weber đã phân biệt rõ bốn loại hành động xã hội: a. Hành động duy lý – công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc về hoàn cảnh, tính toán định hướng vào điều kiện để xác định sự hợp lý về mục đích hành động và lựa chọn công cụ, phương tiện để thực hiện nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Hành động này nổi trội lên vai trò của ý chí chủ quan của chủ thể hành động 17 b. Hành động duy lý – giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân).
Thực chất loài hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ phương tiện duy lý. Ở đây nó nổi trội lên vài trò của yếu tố khách quan bắt buộc c hủ thể phải cân nhắc, cẩn trọng để lựa chọn những gì mà nó cho là có nghĩa, có giá trị (đã được hình thành trong đời sống xã hội) và nó đòi hỏi được chủ thể thực hiện bằng niềm tin, nghĩa vụ với các giá trị này. Hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động. Nó không cần đạt mục đích bên ngoài nào đó mà nó có một ý nghĩa ngay ở trong tính xác định của chính đặc tính của hành vi.
Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác. Hành động này dựa trên cơ sở bắt chước mô hình hành vi truyền thống nào đó đã được củng cố và khẳng định, chấp nhận, nó được thực hiện trên cơ sở phản ứng tự động đối với kích thích quen thuộc đang tồn tại trong khuôn khổ tâm thế đã từng được thiết lập. [7] Vận dụng cách tiếp cận Vai trò của an sinh xã hội vào đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ tác động của BHTN đối với đời sống của người công nhân trong thời gian thất nghiệp. Bên cạnh đó vận dụng lý thuyết Hành động xã hội để phân tich các cách sử dụng nguồn hỗ trợ thất nghiệp của công nhân để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 3.
Vị trí địa lý Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ. Tên gọi cũ là Sông Bé nay được tách ra hai tỉnh là Bình Dương và Bình Phước. với diện tích 2694,4 km2. 18 Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh.
Tỉnh Bình Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố là Thủ Dầu Một, 4 thị xã là : Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên và 4 huyện : Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng, Dầu Tiếng, Phú Giáo. Theo thống kê của chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bình Dương năm 2016 toàn dân số toàn tỉnh là 1.817 người với 15 dân tộc anh em cùng chung sống trên địa bàn, mật độ dân số 741 người/km². Tình hình kinh tê – xã hội Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2017 của UBND tỉnh kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng 9,15%, GRDP bình quân đầu người đạt 115,9 triệu đồng, Chỉ số phát triển công nghiệp tăng 10,98%, trong đó 23/25 sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ và có 11 nhóm tăng trên 10%.
Trong năm 2017, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp; các chỉ số về năng lực cạnh tranh, cải cách hành chính của địa phương tiếp tục được cải thiện; thường xuyên tổ chức hội nghị gặp gỡ hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, số vốn đầu tư trong nước tăng cao so với năm 2016, vốn đầu tư nước ngoài vượt kế hoạch đề ra. Theo đó, toàn tỉnh đã thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2,514 tỷ đô la Mỹ, vượt gần 80% kế hoạch năm; thu hút đầu tư trong nước đạt 42. [2] Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục phát triển mạnh do doanh nghiệp, nhà đầu tư tận dụng các cơ hội, khai thác tốt các thị trường và tác động tích 19 cực từ các hiệp định, cam kết trong thương mại Việt Nam đã tham gia ký kết. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 28,533 tỷ đô la Mỹ, nhập khẩu ước đạt 23,819 tỷ đô la Mỹ, duy trì thặng dư thương mại trên 4,7 tỷ đô la Mỹ… Trong 29 chỉ tiêu chủ yếu có 10 chỉ tiêu vượt kế hoạch, 18 chỉ tiêu đạt kế hoạch và 1 chỉ tiêu tuy chưa đạt nhưng vẫn tăng hơn so với năm 2016.
Tỉnh đã tích cực triển khai các giải pháp huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Ước tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 81.264 tỷ đồng, tăng 11,6%. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm và đào tạo nghề của tỉnh trong năm 2017 đạt nhiều kết quả tích cực. Tỉnh đã huy động nhiều nguồn lực để chăm lo cho các đối tượng chính sách, xã hội và thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững.
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trẻ em, thực hiện bình đẳng giới, phòng chống các tệ nạn xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực.