Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Nhận thức chung về người chưa thành niên Quá trình phát triển của một đứa trẻ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được các nhà khoa học phân chia thành các giai đoạn khác nhau, trong đó có giai đoạn chưa thành niên, nhưng việc xác định cụ thể thời điểm bắt đầu, kết thúc tuổi chưa thành niên còn có nhiều ý kiến khác nhau (tuổi chưa thành niên từ 14 -17 tuổi; 11 - 15 tuổi; 12 - 15 tuổi; hoặc nam là từ 14 - 16 tuổi, nữ là từ 11 - 13 tuổi; hoặc nam từ 12 - 17 tuổi, nữ là từ 12 - 15 tuổi) [15, tr. NCTN là những người đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý. Trong độ tuổi chưa thành niên, con người chưa phát triển đầy đủ cả về mặt thể lực, trí tuệ, tinh thần và nhân cách.
Là những người chưa có kinh nghiệm sống, thiếu kiến thức về pháp luật, dễ dàng thay đổi do điều kiện sống tác động; Khả năng tự kiềm chế chưa tốt, chưa phân biệt về hành vi khi mình thực hiện có nguy hiểm cho xã hội hay không. Nhận thức về khái niệm NCTN được sử dụng trong các ngành như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học… Từ những góc độ khác nhau, cách hiểu khác nhau. NCTN theo luật pháp Quốc tế và pháp luật Việt Nam chưa có một khái niệm cụ thể nào, chủ yếu xác định NCTN qua độ tuổi, cụ thể: Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận: “Trong phạm vi của công ước này, Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [32, Điều 1] Theo công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (hay còn được gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" [29, số 2.
Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 quy định: "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" [29, số 2. Qua các quy định của Luật pháp Quốc tế cho thấy việc xác định một người là NCTN không căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lý và sự phát triển về thể chất hay tinh thần. mà thông qua căn cứ xác định một người là NCTN chính là xác định độ tuổi.
Độ tuổi được xác định chung là dưới 18 tuổi, và mở ra một khả năng là tùy điều kiện mỗi nước có thể đưa ra độ tuổi chưa thành niên thấp hơn 18 tuổi. Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam việc quy định độ tuổi chưa thành niên được ghi nhận trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, và một số văn bản quy phạm Pháp luật khác. Trong các văn bản Pháp luật này đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định Pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh vực cụ thể. Không giống như pháp luật Quốc tế xác định trẻ em là NCTN dưới 18 tuổi, pháp luật Việt Nam có những quy định khác về NCTN và trẻ em.
Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [46, Điều 1]. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 ghi nhận: “…Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” [47, Điều 18]. Bộ luật hình sự 1999 quy định: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [44, Điều 12]. BLHS cũng quy định: Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Có thể thấy rằng nhận thức chung của các nước về NCTN, được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất, tinh thần và được xác định về mặt thực tế bằng giới hạn độ tuổi quy định trong các văn bản Pháp luật của từng quốc gia. Căn cứ vào đó, người ta mới có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của NCTN.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, có không nhiều các định nghĩa về NCTN phạm tội.TSKH Lê Cảm và TS.Đỗ Thị Phượng thì “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [7, tr. TS Trịnh Tiến Việt định nghĩa như sau: "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm - sinh lí, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện" [64]. Từ những nhận thức chung nhất có thể hiểu rằng: người chưa thành niên là người đang trong giai đoạn chuyển từ độ tuổi trẻ em trở thành người lớn và là giai đoạn có những xung đột, xáo trộn tâm sinh lý, chưa nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm của hành vi do mình thực hiện. Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1.
Nhận thức chung về giai đoạn điều tra vụ án hình sự Điều tra là hoạt động của CQĐT và những cơ quan được giao nhiệm vụ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự TTHS, nhằm chứng minh sự thật của VAHS theo yêu cầu của Pháp luật. Điều tra VAHS là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng, phục vụ việc thực hiện mục đích chung của quá trình tố tụng đó là: Phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Trong giai đoạn điều tra VAHS, CQĐT chỉ được áp dụng những biện pháp, những phương tiện theo quy định để làm rõ vụ án. Hoạt động điều tra phải bảo đảm tuân thủ tất cả các văn bản Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến hoạt động điều tra.
CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và ĐTV có quyền và nghĩa vụ áp dụng có hiệu quả tất cả các biện pháp và phương tiện theo quy định của Pháp luật để điều tra khám phá tội phạm, đồng thời phải bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cơ quan, tổ chức và công dân, tôn trọng và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân. Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình tiến hành TTHS, được bắt đầu từ khi có quyế t đinh ̣ khởi tố vụ án đến khi CQĐT ra bản kết luận điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát nhân dân đề nghị truy tố bị can trước Pháp luật nếu có đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi tội phạm của bị can hoặc đình chỉ điều tra nếu có một trong những căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 19, Điều 25 và khoản 2, Điều 69 Bộ luật Hình sự. Giai đoạn điều tra từ khi có quyết định khởi tố vụ án chia thành nhiều giai đoạn nhỏ. Giai đoạn điều tra ban đầu nhằm xác định tội phạm và người thực hiện hành vi tội phạm.
Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn nhằm chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi tội phạm. Trong giai đoạn này CQĐT được áp dụng các biện pháp như hỏi cung bị can, truy bắt các đối tượng gây 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com án, khám xét, thực nghiệm điều tra, lấy lời khai của người làm chứng, áp dụng các biện pháp ngăn chặn… để chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi tội phạm. Trong giai đoạn điều tra, CQĐT được áp dụng mọi biện pháp theo quy định để xác định sự thật của vụ án. Có nghĩa là việc áp dụng các biện pháp để nhằm mục đích khám phá vụ án phải bảo đ ảm yếu tố tuân thủ Pháp luật, phù hợp với quy định của Pháp luật, bảo đảm yếu tố khách quan, đầy đủ, toàn diện của giai đoạn điều tra.
Khái niệm bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và nhân quyền [16, Điều 1] “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân” [16, Điều 3]. Từ nhận thức chung nhất về quyền con người có thể hiểu rằng: Quyền con người là những quyền vốn có tự nhiên mà con người trong điều kiện xã hội tiến bộ nhất định mới được hưởng. Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “bảo đảm” được cho là: “Làm cho chắc chắn thực hiện được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [62. Như vậy “bảo đảm” có thể hiểu là sự cam kết, bảo vệ tuyệt đối về những gì cần thiết.
Bảo đảm quyền con người của NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS là sự cam kết, bảo vệ của CQTHTT chống lại sự xâm hại những đặc lợi vốn có của NCTN được hưởng. Chủ thể được bảo đảm của quyền con người và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền con người theo nhận thức chung có thể hiểu rằng: Chủ thể được bảo đảm của quyền con người của NCTN là NCTN tham gia với các tư cách khác nhau trong giai đoạn điều tra VAHS. Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền con người của NCTN là Nhà nước. Mà cụ thể đại diện cho Nhà nước là CQTHTT.