Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Chương 2: Điều chỉnh pháp luật về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và thực trạng thực hiện tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ THÂN THỂ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm thân thể trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm. Hoạt động điều tra được nhìn nhận và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào quan điểm chính trị, chính sách hình sự, trình độ và cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội phạm ở từng nước.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam tồn tại các quan điểm khác nhau về hoạt động điều tra: Từ điển Luật học giải thích: “Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” [36]. Theo Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam (2005) thì “ĐTVAHS là hoạt động điều tra theo pháp luật TTHS của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm xác định sự thật của vụ án, lập hồ sơ đề nghị xử lý, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa” [37]. Trong cuốn Tìm hiểu Luật Tố tụng hình sự, một nhóm tác giả cùng thống nhất giải thích: “Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự 7 quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án” [10] hoặc “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội” [12] hoặc “Điều tra tội phạm là giai đoạn đầu, giữ vai trò rất quan trọng trong tố tụng hình sự (TTHS). Giai đoạn này kéo dài, rất phức tạp và có ý nghĩa chi phối cả tiến trình tố tụng” [21].
Từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn TTHS thứ hai, trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can. Điều tra vụ án hình sự là một quá trình áp dụng pháp luật rất phức tạp, được tiến hành với mục đích làm rõ sự thật khách quan toàn diện về vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra, CQĐT được tiến hành các hoạt động điều tra theo qui định của Bộ luật TTHS để thu thập chứng cứ, bao gồm chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can cũng như những chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án. Trong quá trình điều tra, CQĐT có quyền sử dụng những biện pháp được quy định trong BLTTHS: tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và 8 kiến nghị khởi tố; áp dụng những biện pháp ngăn chặn; tiến hành các biện pháp điều tra cụ thể; yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp tài liệu và trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án; có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật để phát hiện, ghi nhận, mô tả, thu lượm, bảo quản dấu vết, tài liệu; phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, các loại vũ khí… Đồng thời được phép huy động các lực lượng (các cơ quan, tổ chức, đoàn thể quần chúng, công dân) tham gia vào hoạt động điều tra, giúp CQĐT giải quyết các yêu cầu cụ thể trong điều tra vụ án, như: truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng; bảo vệ hiện trường, cấp cứu người bị nạn, bảo vệ tài sản, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tội phạm gây ra; truy tìm những người làm chứng, người bị hại, vật chứng của vụ án; phát hiện thu thập những tài liệu, chứng cứ của vụ án; giúp đỡ Cơ quan điều tra về địa điểm, phương tiện vật chất tạo điều kiện cho quá trình tổ chức và tiến hành các hoạt động điều tra… Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng.
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là xác định tội phạm và người thực hiện tội phạm; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Khái niệm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền con người cơ bản được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật trong nước. Tại Điều 5 của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 quy định: “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [20]; Điều 7 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 nêu rõ: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp phẩm giá; không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó” [9]. Bên cạnh đó, vấn đề tra tấn còn được đề cập trong một số điều ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Công ước về Chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 (Việt Nam gia nhập công ước này từ ngày 28 tháng 11 năm 2014).
Bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nước ta. Đặc biệt, trong tố tụng hình sự pháp luật cho phép trong những trường hợp nhất định các biện pháp cưỡng chế hình sự nói chung, biện pháp hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể có thể được áp dụng nhằm phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời, công minh tội phạm và người phạm tội thì việc bảo đảm quyền này càng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người. Từ khái niệm về điều tra vụ án hình sự và các quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong các văn bản pháp lý quốc tế, có thể hiểu: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong điều tra vụ án hình sự là quyền được pháp luật bảo hộ về tự do thân thể, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục 10 hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm trái pháp luật thân thể của người bị điều tra trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra các vụ án hình sự. Đặc điểm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Thứ nhất, quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong điều tra vụ án hình sự là quyền tự nhiên của con người.
Kể từ khi thế giới loài người được hình thành, quyền con người đã được bảo vệ, biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm, hạnh phúc của mọi con người [19, tr. Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau.
Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con người thường được các nhà nghiên cứu trích dẫn. Theo định nghĩa này, quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người [40].