phần mở đầu, nội dung chính, kết luận, phụ lục và danh sách các tài liệu tham khảo. Nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án Hành chính; - Chƣơng 2: Thực trạng bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án Hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - Chƣơng 3: Kiến nghị nhằm nâng cao việc đảm bảo nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án Hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. 7 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1.
Các khái niệm và quy định pháp luật có liên quan về nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án hành chính” 1. Khái niệm “Thẩm phán” và các quy định có liên quan theo pháp luật Việt Nam hiện hành 1. Khái niệm “Thẩm phán” Xét ở góc độ ngôn ngữ, theo Từ điển Hán Nôm, cụm từ “Thẩm phán” đƣợc giải nghĩa là một từ Hán Việt; trong đó, “thẩm” là xét hỏi, thƣờng gặp trong các cụm từ nhƣ thẩm tra, thẩm vấn; “phán” đƣợc hiểu với nghĩa thông dụng là xét xử, thƣờng gặp trong các cụm từ nhƣ phán quyết, phán quan. Trong Từ điển Tiếng Việt việc giải nghĩa đối với cụm từ “Thẩm phán” đƣợc hiểu là ngƣời làm công tác xét xử.
Khái niệm “Thẩm phán” trong cuốn Sổ tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng đƣợc đề cập nhƣ sau: Thẩm phán là một chức danh của Nhà nƣớc trong Tòa án các cấp chỉ ngƣời đƣợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện việc xét xử các vụ án. Trên khía cạnh pháp luật, khái niệm Thẩm phán đƣợc đề cập lần đầu tại Điều 25 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960: “Công dân có quyền bầu cử và ứng cử từ hai mươi ba tuổi trở lên có thể được bầu làm thẩm phán”. 8 Xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án nhân dân, trải qua nhiều lần sửa đổi của Luật tổ chức Tòa án, khái niệm “Thẩm phán” đƣợc quy định ngày càng cụ thể, chi tiết hơn qua các thời kỳ, nhƣ sau: Điều 40 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 quy định: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có kiến thức pháp lý cần thiết, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, thì có thể được bầu làm thẩm phán Toà án nhân dân.” Điều 37 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 quy định: “ Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất, đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán…” Điều 37 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định: “ Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.” Tại Điều 65 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, khái niệm Thẩm phán đƣợc hiểu: “Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.” Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, khái niệm Thẩm phán đƣợc quy định tại Điều 88: “Thẩm phán là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ xét xử và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”. 9 Từ những quy định nêu trên của pháp luật dẫn đến khái niệm “Thẩm phán” đƣợc hiểu một cách chung nhất là ngƣời đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của luật này và đƣợc Chủ tịch nƣớc bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ xét xử.
Tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, khái niệm này còn mở rộng hơn về vai trò, nhiệm vụ của Thẩm phán: Không chỉ thực hiện nhiệm vụ chính là xét xử mà còn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác đƣợc pháp luật cũng nhƣ Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định. Điều luật này góp phần cụ thể hóa trách nhiệm, vai trò của Thẩm phán; khi đƣợc phân công nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ xét xử, Thẩm phán chịu sự điều chỉnh và chi phối của pháp luật có liên quan đối với vị trí, vai trò đƣợc giao nhiệm vụ; đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc khác theo quy định của pháp luật; chấp hành mệnh lệnh phân công của ngƣời quản lý phụ trách. Khái niệm này đã tách bạch hoàn toàn hoạt động xét xử của Thẩm phán đối với các hoạt động khác có liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Ví dụ: Trong hoạt động luân chuyển quản lý hành chính, ngƣời Thẩm phán đồng thời là công chức chịu sự điều động, luân chuyển của tổ chức và cấp trên quản lý, theo các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; Luật cán bộ công chức; Quy chế nội bộ của đơn vị về điều động, luân chuyển cán bộ, công chức… Tại một số quốc gia trên thế giới, qua tìm hiểu pháp luật hiện hành, khái niệm Thẩm phán đƣợc định nghĩa một cách tƣơng đối đa dạng: * Tại Trung Quốc: Điều 2 - Luật Thẩm phán của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đƣa ra định nghĩa: Thẩm phán là những nhân viên xét xử thực hiện quyền xét xử của Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật, những ngƣời này gồm có Chánh án, Phó Chánh án, thành viên Ủy ban Thẩm phán, Chánh tòa, Phó Chánh tòa và Thẩm phán xét xử của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án 10 nhân dân các cấp địa phƣơng và Tòa án nhân dân chuyên trách nhƣ Tòa Quân sự.
* Tại Đức: Theo Luật Tòa án Hiến pháp Liên bang, tiêu chí đƣợc bầu làm Thẩm phán tại Tòa án Hiến pháp Liên bang là ngƣời đủ năng lực theo Luật Thẩm phán Đức, tròn 40 tuổi, có ít nhất 03 năm kinh nghiệm công tác tại Tòa án cấp cao của Liên bang (Điều 1, 2, 3, 4 Luật Tòa án Hiến pháp Liên bang) tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt trong các lĩnh vực thuộc luật công. Từ góc độ nhìn nhận của tác giả luận văn trong phạm vi nghiên cứu khái niệm “Thẩm phán” dƣới góc độ xét xử có thể đƣa ra cách hiểu khái quát nhƣ sau: Thẩm phán là người đáp ứng đủ những tiêu chí nhất định theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, được Chủ tịch nước bổ nhiệm, có nhiệm vụ giải quyết, xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 liên quan đến Thẩm phán * Tuyên thệ của Thẩm phán - Điều 89: “1. Thẩm phán được bổ nhiệm phải tuyên thệ tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân, với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao một cách trung thực, tận tâm; thực hành công lý chỉ tuân theo pháp luật, khách quan và công bằng; tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định cách thức tuyên thệ của Thẩm phán.” Nội dung này đƣợc đánh giá là một quy định hoàn toàn mới. Theo đó, Thẩm phán đƣợc bổ nhiệm phải tuyên thệ với các nội dung “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân, với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao một cách trung 11 thực, tận tâm; thực hành công lý chỉ tuân theo pháp luật, khách quan và công bằng; tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán”. Tuyên thệ của Thẩm phán nhƣ một lời hứa danh dự, cam đoan về những điều sẽ thực hiện với Tổ quốc, với nhân dân khi bổ nhiệm Thẩm phán. Điều này góp phần nâng cao trách nhiệm của chính mỗi ngƣời Thẩm phán trong quá trình công tác, luôn nhắc nhở họ về những điều đã cam kết khi đƣợc bổ nhiệm.
* Ngạch, bậc của Thẩm phán - Điều 90: Ngạch Thẩm phán Tòa án nhân dân tại Điều 66 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định gồm: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp. Tuy nhiên, theo quy định tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 chỉ đề cập Thẩm phán gồm các ngạch: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Thẩm phán Tòa án nhân dân. Nhận thấy quy định mới này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của quy định hiện hành trong việc điều động, bố trí, thực hiện chính sách cho Thẩm phán, nâng cao niềm tin của ngƣời dân đối với cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; góp phần phục vụ nhiệm vụ công tác xét xử của ngành Tòa án; phù hợp với khối lƣợng công việc Tòa án các cấp đang đảm nhiệm; khắc phục vƣớng mắc hiện nay trong việc điều động Thẩm phán từ Tòa án cấp này đến Tòa án cấp khác làm nhiệm vụ; bảo đảm chế độ, chính sách để Thẩm phán yên tâm công tác; tránh tâm lý của ngƣời dân về Thẩm phán sơ cấp, trung cấp giải quyết công việc của họ. Việc quy định ngạch, bậc Thẩm phán để các Thẩm phán phấn đấu về chuyên môn nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ xét xử.
* Bổ nhiệm Thẩm phán - Điều 91: 12 “ 1. Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm căn cứ vào nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.