Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng giữ vai trò huyết mạch nhưng cũng đối mặt với áp lực nợ xấu gia tăng. Tại thành phố Hải Phòng – trung tâm kinh tế biển lớn thứ ba cả nước với 15 đơn vị hành chính cấp huyện, các vụ việc thi hành án dân sự liên quan đến tổ chức tín dụng giai đoạn 2018 - 2021 chiếm từ 3,2% đến 6,0% về số lượng việc thụ lý nhưng lại chiếm áp đảo về giá trị tiền phải thi hành, có thời điểm chiếm trên 50% tổng số tiền thi hành án toàn địa bàn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ những rào cản pháp lý và thực tiễn trong hoạt động cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản thế chấp là bất động sản – loại tài sản bảo đảm phổ biến nhất chiếm hơn 80% tổng giá trị các khoản vay lớn. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về kê biên và xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, nhà xưởng; đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 4 năm (2018 - 2021); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao tỷ lệ thu hồi nợ. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp nâng cao tỷ lệ thi hành án xong về tiền từ mức trung bình 21% - 39% lên các mức mục tiêu cao hơn, đồng thời giảm thiểu rủi ro pháp lý cho hệ thống ngân hàng và cơ quan thi hành án.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng hai lý thuyết trụ cột: Lý thuyết về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Lý thuyết về quyền lực công quyền trong cưỡng chế thi hành án dân sự theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2022). Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng cơ chế xử lý nợ xấu đặc thù từ Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội để phân tích thẩm quyền thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm.

Bốn khái niệm pháp lý then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Tổ chức tín dụng (quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng), Thế chấp tài sản là bất động sản (Điều 317 và Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015), Cưỡng chế kê biên tài sản (Điều 71 Luật Thi hành án dân sự), và Quy trình thẩm định giá, bán đấu giá tài sản kê biên (quy định tại Điều 98, Điều 101 Luật Thi hành án dân sự và Luật Đấu giá tài sản năm 2016).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ hệ thống báo cáo thống kê chính thức của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/9/2021, bao quát tổng quy mô thụ lý từ 13.737 đến 18.196 việc mỗi năm, trong đó tập trung vào mẫu tổng thể gồm 2.687 việc liên quan đến các tổ chức tín dụng. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế gồm 128 vụ việc đã tổ chức cưỡng chế kê biên bất động sản và các bản án kinh doanh thương mại điển hình tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền và Tòa án nhân dân huyện An Dương.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ đối với số liệu định lượng hàng năm kết hợp chọn mẫu có chủ đích đối với các vụ việc vướng mắc pháp lý phức tạp. Tác giả áp dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích tổng hợp lịch sử và so sánh luật học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bảo đảm đánh giá khách quan giữa quy định định chuẩn của văn bản quy phạm pháp luật với các biến số thực tiễn trong công tác thi hành án tại 15 Chi cục trực thuộc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu án tín dụng ngân hàng có sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ việc và tỷ lệ tiền. Năm 2018, án tín dụng chỉ chiếm 3,2% (546 việc) trên tổng số 17.017 việc thụ lý, nhưng đến năm 2021 tỷ lệ này đã tăng lên 6,0% (769 việc) trên tổng số 13.737 việc thụ lý, phản ánh xu hướng nợ xấu chuyển sang giai đoạn thi hành án ngày càng tăng.

Thứ hai, kết quả thi hành xong án tín dụng ngân hàng còn hạn chế về tỷ lệ việc có điều kiện thi hành: năm 2018 đạt 16,63% (69/415 việc), năm 2019 đạt 16,16% (74/458 việc), năm 2020 giảm xuống 10,3% (76 việc), và năm 2021 đạt 22% (218/987 việc). Tỷ lệ thu hồi về tiền biến động mạnh từ mức 39,36% năm 2018 xuống mức thấp kỷ lục 9,22% năm 2020 trước khi đạt 21% năm 2021.

Thứ ba, số lượng vụ việc cưỡng chế kê biên bất động sản thành công không đồng đều qua các năm: năm 2018 thực hiện 22/48 việc (đạt 46%), năm 2019 thực hiện 38/56 việc (đạt 68%), năm 2020 thực hiện 47/92 việc (đạt 51%), và năm 2021 chỉ thực hiện được 21/75 việc (đạt 30%).

Thứ tư, về loại hình tài sản, quyền sử dụng đất thuần túy chiếm tỷ trọng cao nhất với 64 việc (chiếm 50% trong tổng số 128 việc kê biên giai đoạn 2018 - 2021), tiếp theo là quyền sử dụng đất gắn liền với công trình xây dựng với 46 việc (chiếm 35,9%), nhà ở cùng tài sản gắn liền chiếm 16 việc (chiếm 12,5%), và nhà xưởng sản xuất chiếm 1,6%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ lệ thi hành án thành công chưa cao xuất phát từ sự chống đối của người phải thi hành án thông qua việc trốn tránh, không nhận thông báo tống đạt theo Điều 39 đến Điều 42 Luật Thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, sự biến động hiện trạng bất động sản thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sai ranh giới, lấn chiếm hoặc thay đổi công năng công trình) buộc Chấp hành viên phải tạm dừng cưỡng chế để đo vẽ, xin ý kiến chuyên môn.

Điển hình như vụ việc tại Bản án số 106/2013/KDTM-ST của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, tài sản thế chấp là nhà xưởng trị giá hàng chục tỷ đồng nhưng bên thế chấp đã bàn giao cho bên thứ ba quản lý và sản xuất, gây phức tạp nghiêm trọng cho công tác bảo quản và bàn giao tài sản. Để minh họa trực quan, dữ liệu thực trạng có thể được cấu trúc thành biểu đồ cột ghép thể hiện tương quan giữa số việc thụ lý và số tiền thu hồi, kết hợp bảng phân loại 4 nhóm tài sản bất động sản kê biên để theo dõi mức độ thanh khoản qua từng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, hoàn thiện quy định pháp luật thi hành án dân sự: Kiến nghị Bộ Tư pháp chủ trì tham mưu Chính phủ sửa đổi Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, quy định chế tài xử phạt hành chính cụ thể đối với hành vi cố tình trốn tránh nhận thông báo thi hành án hoặc cản trở hoạt động đo đạc, phấn đấu hoàn thành sửa đổi trong giai đoạn 2023 - 2024 nhằm giảm thời gian chuẩn bị cưỡng chế xuống dưới 30 ngày.

Hai là, thiết lập quy chế phối hợp liên ngành thực chất: Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng cần chủ động ký kết và thực thi quy chế phối hợp định kỳ với Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký đất đai và Công an thành phố Hải Phòng. Mục tiêu rút ngắn thời gian cung cấp thông tin quy hoạch, trích lục địa chính xuống dưới 15 ngày làm việc, nâng tỷ lệ kê biên thành công không cần hoãn do thiếu hồ sơ lên trên 85%.

Ba là, chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ thi hành án: Lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng cần xây dựng chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu định kỳ 6 tháng một lần cho 94 Chấp hành viên và 17 Thẩm tra viên, tập trung vào kỹ năng xử lý bất động sản hình thành trong tương lai và tài sản có tranh chấp quyền sở hữu của bên thứ ba.

Bốn là, tối ưu hóa quy trình thẩm định giá và bán đấu giá: Các Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện cần tăng cường phối hợp với các tổ chức thẩm định giá độc lập có uy tín và mở rộng phạm vi lựa chọn doanh nghiệp đấu giá chuyên nghiệp theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ bán đấu giá không thành từ mức trên 55% xuống dưới 30% trong lộ trình 2022 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Đội ngũ Chấp hành viên, Thẩm tra viên và Thư ký thi hành án tại 15 Chi cục Thi hành án dân sự quận, huyện và Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố. Nghiên cứu cung cấp quy trình tác nghiệp chuẩn hóa, giải pháp nhận diện rủi ro khi kê biên nhà xưởng, đất đai đang có tranh chấp hoặc bị bên thứ ba chiếm giữ.

Nhóm thứ hai: Cán bộ pháp chế, chuyên viên quản lý rủi ro và thu hồi nợ tại các Ngân hàng thương mại, Tổ chức tín dụng. Tài liệu giúp các ngân hàng nhận diện lỗ hổng pháp lý trong quá trình thẩm định tài sản thế chấp ban đầu, từ đó xây dựng hợp đồng thế chấp chặt chẽ, phòng ngừa nợ xấu khó thi hành.

Nhóm thứ ba: Luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý và Trọng tài viên trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, tài chính. Luận văn cung cấp hệ thống án lệ, vụ việc thực tế tại Hải Phòng và các kỹ năng tranh tụng bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng khi tham gia giai đoạn thi hành án.

Nhóm thứ tư: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật. Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định chuẩn pháp lý và phân tích số liệu thực chứng trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ thu hồi tiền trong các vụ án tín dụng ngân hàng thường đạt mức thấp dù đã có tài sản bảo đảm?

Nguyên nhân do tài sản bất động sản thế chấp thường có giá trị lớn nhưng tính thanh khoản phụ thuộc vào thị trường, thủ tục thẩm định giá và bán đấu giá kéo dài. Tại Hải Phòng năm 2020, tỷ lệ thi hành xong về tiền chỉ đạt 9,22% do nhiều tài sản phải giảm giá nhiều lần mà không có người mua hoặc vướng mắc tranh chấp hiện trạng.

Pháp luật xử lý như thế nào khi kê biên bất động sản là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án?

Căn cứ Khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự, khi kê biên nhà ở duy nhất, Chấp hành viên vẫn tiến hành xử lý tài sản nhưng phải trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền đủ để người phải thi hành án thuê nhà ở mức trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm trước khi thanh toán cho ngân hàng.

Tổ chức tín dụng có quyền nhận trực tiếp tài sản thế chấp đã kê biên để trừ vào khoản nợ không?

Theo Điều 104 Luật Thi hành án dân sự, từ lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá hoặc đấu giá không thành, tổ chức tín dụng có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Nếu ngân hàng từ chối nhận, Chấp hành viên tiếp tục giảm giá bán tài sản.

Khó khăn lớn nhất khi kê biên bất động sản có sai lệch hiện trạng so với giấy chứng nhận là gì?

Điểm nghẽn lớn nhất là việc người sử dụng đất tự ý cơi nới, xây lấn sang thửa đất liền kề hoặc thay đổi mục đích sử dụng đất. Ví dụ tại Bản án số 23/2013/KDTM-ST tại huyện An Dương, sai lệch ranh giới buộc cơ quan thi hành án phải đo vẽ lại, hoãn kê biên và xin ý kiến cơ quan tài nguyên môi trường, làm kéo dài thời gian xử lý nhiều tháng.

Nghị quyết số 42/2017/QH14 mang lại lợi ích gì trong việc xử lý tài sản bảo đảm tại Hải Phòng?

Nghị quyết số 42/2017/QH14 tạo cơ chế pháp lý đặc thù cho phép tổ chức tín dụng và cơ quan thi hành án đẩy nhanh tiến độ thu giữ tài sản bảo đảm, phân bổ nguồn tiền thu được theo thứ tự ưu tiên thanh toán nợ, giúp Hải Phòng tổ chức kê biên thành công 47 vụ việc bất động sản trong năm 2020.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý luận về cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản thế chấp là bất động sản trong thi hành án dân sự.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng chi tiết với hệ thống số liệu định lượng 4 năm liên tục (2018 - 2021) tại 15 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
  • Phân tích sâu sắc các tình huống thực tiễn điển hình về tranh chấp quyền sử dụng đất, nhà xưởng có bên thứ ba chiếm giữ.
  • Đánh giá tác động thực tế của Nghị quyết số 42/2017/QH14 đối với hiệu quả thu hồi nợ xấu ngân hàng tại địa phương.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa đổi luật, tăng cường phối hợp liên ngành đến chuẩn hóa quy trình thẩm định giá và đấu giá tài sản.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương hoàn thiện các văn bản hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự sửa đổi trong giai đoạn 2023 - 2025. Bạn đọc hãy chủ động khai thác toàn văn luận văn để áp dụng hiệu quả các giải pháp pháp lý vào hoạt động thực tiễn thu hồi nợ và quản trị rủi ro tín dụng.