Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BOI THƯỜNG THIET HAI DO TÀI SAN GAY RA 1. Khái niệm và đặc trưng của bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra 1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra Theo dòng chảy của thời gian, hệ thống pháp luật nước ta ngày càng được ghi nhận đầy đủ và hoàn thiện. Cũng nằm trong tiến trình này, chế định BTTH ngoài hợp đồng cũng có những thay đổi cho phù hợp với thực tế đời sống xã hội va được quy dinh chặt chẽ hơn.
Việc quy định BTTH ngoài hợp đồng do tài sản gây ra cũng được quy định để hoàn thiện hơn trong cuộc sống này. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng bao gồm trách nhiệm BTTH do hành vi con người gây ra và trách nhiệm BTTH do tai sản gây ra. Đối với trường hợp hành vi con người gây ra thiệt hại thì cần xem xét đến yếu tô hành vi của cá nhân, pháp nhân. Hành vi con người có thé gây ra mọi loại thiệt hại từ tài sản đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Còn đối với trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra thì chính sự vận động, hoạt động của tai sản là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại phát sinh. Mặc dù đối với trường hợp này hành vi của con người không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại nhưng cần phải xác định chủ thể chịu trách nhiệm cho trường hợp tài sản gây thiệt hại. Trước hết để hiểu về loại trách nhiệm này, cần phải nghiên cứu về khái niệm BTTH do tài sản gây ra. Hiện nay, không có nhiều công trình khoa học nghiên cứu tổng quát những quy định của luật Dân sự về BTTH do tài sản gây ra.
Nếu có, các công trình này cũng chỉ nghiên cứu chuyên sâu đối với từng trường hợp riêng biệt, cụ thé liên quan đến BTTH do các loại tài sản cụ thé gây thiệt hại hoặc trong trường hợp nhất định. Do đó, khái niệm về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra không được các nhà nghiên cứu xây dựng một cách tông quát. Một trong khái niệm về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra đã nhà nghiên cứu xây dựng như: Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra là quy dinh của luật Dân sự mà khi áp dụng sẽ phát sinh một quan hệ pháp luật dân sự. Theo đó, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng để tài sản gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thé khác phải BTTH do tài sản gây ra [17, tr.
Đối với khái niệm đưa ra này, tác giả nhận thấy khái niệm cần thảo luận một số vấn đề như sau: Một là, khái niệm trên nêu: “Trách nhiệm bài thường thiệt hại do tài sản gây ra là quy định của luật Dân sự”. Như vậy, khái niệm trên tiếp cận trách nhiệm bồi thường theo hướng là các “guy định của luật Dân sự” mà không xây dựng dưới góc độ là một loại trách nhiệm dân sự. Theo tác giả, việc tiếp cận trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra cần được tiếp cận theo hướng là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm này sẽ mang đến một hậu quả pháp lý bat lợi cho chủ thé phải chịu trách nhiệm bồi thường. Hai là, BTTH do tài sản gây ra nguyên nhân không chỉ xuất phát từ hành vi của chủ sở hữu, người chiếm hữu mà còn xuất phát từ tự thân hoạt động của chính tài sản đó.
Vậy việc sử dung từ “dé” [16, tr.19] của tác giả trong khái niệm sẽ không bao quát hết được việc trên và sẽ hướng mọi người theo ý hiểu BTTH do hành vi của con người gây ra chứ không phải BTTH do tài sản gây ra. BLDS 2005 quy định về BTTH ngoài hợp đồng và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HDTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thâm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng cho thấy, việc phát sinh trách nhiệm BTTH khi có bốn 10 điều kiện đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây ra và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại. Nghĩa là van đề BTTH không thé phát sinh nếu thiếu cả bốn điều kiện trên. Tuy nhiên, nhiều trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra và bản thân chủ sở hữu cũng như các chủ thé có liên quan đều đảm bảo việc quản lý, sử dung theo đúng quy dinh.
Theo đó, pháp luật sẽ ràng buộc trách nhiệm BTTH đối với một chủ thé liên quan đến tài sản đã gây ra thiệt hại cho chủ thé khác. Việc này nhằm khắc phục các tốn that mà người bị thiệt hại phải gánh chịu và sửa chữa. Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra là một loại trách nhiệm dân sự xuất phát từ hoạt động của bản thân của tài sản, không có sự can thiệp của con người. Có thé thay rằng đây là trách nhiệm không dựa trên yếu tố lỗi của chủ sở hữu, chủ thể khác liên quan.
Khi tài san gay thiệt hại, người chịu BTTH không chỉ có chủ sở hữu mà còn có thể là các chủ thê khác. Người được bồi thường có thé là người chịu sự xâm phạm trực tiếp từ tài sản hoặc là những người có liên quan, nhưng đó phải là người phải bỏ ra những chỉ phí để khắc phục những thiệt hại do tài sản gây nên, bao gồm những thiệt hại về vật chất và cả những tốn thất về tinh thần. Do đó, thiệt hai được bồi thường cũng bao gồm những tổn thất về vật chất và những tổn thất về tinh than. Từ những phân tích này, BTTH do tài san gây ra có thê được hiểu như sau: BTTH do tài sản gây ra là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản phải gánh chịu hậu quả bat lợi về vật chất nhăm bù đắp những tổn thất do tài sản gây ra cho một chủ thể nhất định [16, tr.
Khái niệm này đã thé hiện được những yếu tố sau đây của van dé BTTH do tai sản gây ra: (i) Vé ban chat, BTTH do tai san gây ra là một loại trách nhiệm dân sự. 11 Trách nhiệm dân sự được hiểu là hậu quả bất lợi được đặt ra đối với chủ thể chịu trách nhiệm. Trách nhiệm dân sự chỉ đặt ra khi có các căn cứ như từ hành vi vi phạm, từ hành vi gây thiệt hại. Còn đối với trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra, TNBT chỉ phát sinh có sự hoạt động của tài san gây ra thiệt hại cho chủ thê khác; (ii) Chủ thé bồi thường đối với trường hợp tài sản gây thiệt hai được xác định cho chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản.
Chủ sở hữu la chủ thé được xác định có trách nhiệm trước tiên trong viéc bồi thường. Điều này hoàn toàn phù hợp bởi chủ sở hữu là người được thụ hưởng các lợi ích do tài sản mang lại nên cũng là chủ thé có trách nhiệm bồi thường nếu tài sản của họ gây ra thiệt hại. Ngoài chủ sở hữu ra, một số chủ thé khác như người chiếm hữu, người sử dụng cũng phải BTTH do tài sản gây ra trong một số trường hợp. (iii) Mục đích của BTTH do tai sản gây ra nhằm bù đắp những tốn thất do tài sản gây ra cho chủ thê nhất định.
Việc bồi thường nhắm hướng tới việc khắc phục các hậu quả đã gây ra bởi tài sản. Như vậy, định nghĩa trích dẫn ở trên đã nêu tương đối day đủ các yếu tố, bản chất của BTTH do tài sản gây ra. Theo tác giả khi xây dựng khái niệm về BTTH do tài sản gây ra cần phải tập trung vào một số van đề như sau: Ä⁄ói là, BTTH do tai sản gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý, mang lại hậu quả bat lợi cho chủ thé chịu trách nhiệm. Họ phải thực hiện những hành vi nhất định hay phải trả các khoản tiền nhất định cho bên bị thiệt hại; Hai là, nguyên nhân phát sinh thiệt hại phải do chính sự vận hành, hoạt động của chính tài sản mà không phải do hành vi con người gây ra thiệt hại; Ba là, nếu đối với BTTH do hành vi con người gây ra thì cần xem xét hành vi nào là nguyên nhân gây ra thiệt hại để từ đó xác định chủ thê phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Còn đối với trách nhiệm BTTH do 12 tài sản gây ra thì cần xem xét đến trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản trong từng trường hợp qua đó phân định trách nhiệm bôi thường cho mỗi chủ thé; Bén Id, các loại thiệt hai do tài sản gây ra được hiểu là những tốn thất, mất mát mà chủ thể bị thiệt hại phải gánh chịu, chủ yếu là các thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ. Từ sự phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về BTTH do tài sản gây ra như sau: “BTTH do tài sản gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh do chính sự vận hành, hoạt động của tài sản mà theo đó chủ sở hữm, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản phải gánh chịu hậu quả bắt lợi nhằm bù đắp những ton thất, mat mát về vật chất hoặc tinh than do tài sản gây ra cho chủ thé bị thiệt hai”. Ngoài ra, khái nệm BTTH do tài san còn có thé được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau như chế định pháp luật, quan hệ pháp luật. Ở mỗi góc độ khác nhau, thì BTTH do tài sản lại được hiểu và điều chỉnh khác nhau.
Dưới góc nhìn là chế định pháp luật, BTTH do tài sản gây là tổng hợp các quy định của cơ quan nhà nước có thâm quyền điều chỉnh phát sinh trong van đề BTTH do tài sản gây ra. Dưới góc độ quan hệ pháp luật, BTTH do tài sản gây ra được hiểu là quan hệ giữa người được bồi thường và người phải BTTH được quy phạm pháp luật về BTTH điều chỉnh. Đặc trưng bồi thường thiệt hại ngoài hop đồng do tài sản gây ra BTTH ngoài hợp đồng do tài sản gây ra cũng là một trong các loại BTTH ngoài hợp đồng, vì vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của BTTH ngoài hợp đồng nói chung như: Thứ nhát, BTTH do tài sản gây ra chỉ phat sinh giữa các chủ thé không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại phát sinh không liên quan đến những thỏa thuận trong hợp đồng. Đây là đặc điểm trái ngược với BTTH trong hợp đồng.