Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo chính thức từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn quốc đã xảy ra 4.388 vụ tai nạn lao động khiến 4.461 người thương vong, trong đó có 418 người tử vong và 843 người bị thương nặng. Đáng chú ý, ngành xây dựng liên tục là lĩnh vực chiếm tỷ lệ tai nạn lao động chết người cao nhất cả nước, lên tới 23,8% tổng số vụ tai nạn nghiêm trọng trong năm 2016. Thực trạng báo động này bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ trong việc tuân thủ pháp luật an toàn lao động, sự lơ là trong quản lý rủi ro tại các công trường và nhận thức hạn chế của cả người sử dụng lao động lẫn người lao động.

Mục tiêu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bảo đảm an toàn lao động, đánh giá toàn diện hệ thống quy chuẩn pháp lý hiện hành của Việt Nam, đồng thời phân tích sâu thực tiễn thi hành các quy định an toàn tại các công trình xây dựng. Về phạm vi không gian và thời gian, đề tài tập trung khảo sát các văn bản pháp luật lao động Việt Nam từ sau khi ban hành Bộ luật Lao động năm 2012, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 đến các mốc thực thi thực tế trong giai đoạn 2016 - 2017 trên quy mô toàn quốc.

Ý nghĩa của công trình nghiên cứu được xác lập thông qua hệ thống chỉ số mục tiêu rõ ràng: cung cấp luận cứ khoa học nhằm hỗ trợ các nhà quản lý hoàn thiện 100% khung pháp lý chuyên ngành, đề ra các giải pháp khả thi giúp giảm thiểu ít nhất 20% đến 30% tỷ lệ tai nạn lao động nặng trong ngành xây dựng, đồng thời nâng cao tỷ lệ tuân thủ tiêu chuẩn bảo hộ cá nhân tại các công trường xây dựng lên trên 85%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết vững chắc:

Thứ nhất là lý thuyết quản trị rủi ro nghề nghiệp và hệ thống an toàn vệ sinh lao động do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) khởi xướng thông qua Công ước số 155 năm 1981 và Công ước số 187 năm 2006. Khung lý thuyết này khẳng định an toàn lao động là một quá trình cải tiến liên tục, đòi hỏi trách nhiệm tiên quyết từ người sử dụng lao động kết hợp với quyền tham gia chủ động của người lao động.

Thứ hai là lý luận chung về Nhà nước và pháp luật về điều chỉnh quan hệ lao động, coi pháp luật là công cụ quyền lực mang tính cưỡng chế để thiết lập trật tự an toàn, cân bằng lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp và quyền được bảo vệ tính mạng của công nhân.

Thứ ba là phương pháp dự đoán trước các tình huống nguy hiểm Kizen Yochi (KY) ra đời tại Nhật Bản năm 1974, nhấn mạnh việc phát hiện sớm và triệt tiêu các mối nguy tiềm ẩn ngay tại hiện trường sản xuất trước khi chúng chuyển hóa thành sự cố.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm: An toàn lao động (giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong theo Khoản 2 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015); Điều kiện lao động (tổng hòa các yếu tố kỹ thuật, môi trường và con người tác động qua lại); Tai nạn lao động (sự cố gây tổn thương hoặc tử vong trong quá trình lao động); và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) trong công tác bảo hộ lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia của Cục An toàn lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các báo cáo chuyên đề của hơn 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2012 - 2017. Ngoài ra, nghiên cứu còn khai thác dữ liệu từ các văn kiện quốc tế của ILO như Công ước số 167 về an toàn trong ngành xây dựng và Công ước số 174 về phòng ngừa tai nạn nghiêm trọng.

Về phương pháp phân tích, luận văn phối hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp số liệu thống kê mô tả và phương pháp so sánh luật học đối chiếu với kinh nghiệm từ các quốc gia tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phát hiện chính xác các khoảng trống pháp lý giữa quy định trên văn bản và thực tiễn thi hành khắc nghiệt tại công trường.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 4.388 vụ tai nạn lao động được ghi nhận trên phạm vi toàn quốc trong 6 tháng đầu năm 2017, kết hợp cùng tập mẫu chuyên sâu gồm 120 hồ sơ công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (stratified purposive sampling) được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho nhiều quy mô nhà thầu và các loại hình công trình xây dựng khác nhau tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực tiễn đã đem lại 4 phát hiện quan trọng có số liệu minh chứng cụ thể:

Thứ nhất, ngành xây dựng luôn đứng đầu về tỷ lệ rủi ro tử vong do tai nạn lao động. Theo thống kê năm 2016, số vụ tai nạn lao động chết người trong ngành xây dựng chiếm 23,8% tổng số vụ tai nạn nghiêm trọng của tất cả các ngành kinh tế tại Việt Nam, vượt xa các ngành có tính nguy hiểm cao khác như khai thác mỏ hay cơ khí chế tạo.

Thứ hai, bức tranh an toàn lao động ghi nhận sự suy giảm về mức độ nghiêm trọng nhưng tổng số vụ việc vẫn gia tăng. So sánh giữa 6 tháng cuối năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017 cho thấy: số vụ tai nạn tăng 1,88% (từ 4.307 vụ lên 4.388 vụ), tuy nhiên số người chết đã giảm 22% (từ 539 người xuống 418 người) và số người bị thương nặng giảm 23% (từ 1.098 người xuống 843 người).

Thứ ba, cơ cấu nguyên nhân tai nạn cho thấy hơn 65% số vụ tử vong xuất phát từ việc vi phạm quy trình kỹ thuật, thiếu thiết bị bảo hộ đạt chuẩn và sự cố liên quan đến giàn giáo, thiết bị nâng hạ và ngã cao tại các công trường xây dựng.

Thứ tư, chính sách bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc theo Nghị định số 37/2016/NĐ-CP với mức đóng 1% quỹ tiền lương chưa thể bao phủ nhóm lao động phi chính thức. Khoảng 70% lực lượng lao động ngành xây dựng là lao động thời vụ, ký kết hợp đồng ngắn hạn dưới 1 tháng hoặc làm việc qua trung gian cai thầu, khiến họ hoàn toàn bị gạt ra ngoài mạng lưới an sinh khi rủi ro ập đến.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thực trạng được minh họa sinh động qua Bảng so sánh biến động tai nạn lao động giai đoạn 2016 - 2017 và Biểu đồ cơ cấu nguyên nhân tử vong trong ngành xây dựng năm 2015. Bảng số liệu phản ánh rõ nét tính chất phân hóa của tình hình tai nạn: trong khi các quy định siết chặt kiểm tra giúp giảm tỷ lệ tử vong 22%, thì tổng số vụ việc vẫn tăng do mật độ thi công tại các đô thị tăng nhanh.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này là do cơ chế phối hợp quản lý nhà nước giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các cấp còn thiếu đồng bộ, dẫn đến tình trạng văn bản quy chuẩn kỹ thuật bị chồng chéo. Thêm vào đó, chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP và Nghị định số 88/2015/NĐ-CP còn quá nhẹ so với lợi nhuận của doanh nghiệp khi cắt giảm chi phí bảo hộ, chưa đủ sức răn đe các nhà thầu chây ì.

Khi đặt trong sự so sánh quốc tế, hệ thống an toàn của Singapore với Luật An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc năm 2006 cùng 39 bộ quy tắc ứng xử chi tiết cho thấy Việt Nam đang thiếu các cẩm nang an toàn chuyên biệt cho từng hạng mục thi công. Đồng thời, việc thiếu vắng các quy định bắt buộc áp dụng phương pháp nhận diện rủi ro như mô hình KY của Nhật Bản khiến hoạt động phòng ngừa ở nước ta phần lớn mang tính bị động, chỉ khắc phục khi tai nạn đã xảy ra.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về an toàn lao động trong ngành xây dựng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động chiến lược:

Thứ nhất, rà soát và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành sửa đổi, bổ sung 100% các quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thiết bị nâng, giàn giáo và thi công trên cao trong giai đoạn 2018 - 2020 nhằm tương thích hoàn toàn với Công ước số 167 của ILO.

Thứ hai, mở rộng phạm vi bao phủ của bảo hiểm xã hội và bảo hiểm tai nạn lao động. Quốc hội và Chính phủ cần bổ sung cơ chế đóng - hưởng linh hoạt cho nhóm hơn 2 triệu lao động tự do, lao động thời vụ trong ngành xây dựng, hướng tới mục tiêu đạt trên 80% công nhân xây dựng được bảo vệ bởi quỹ tai nạn lao động vào năm 2022.

Thứ ba, tăng cường chế tài và nâng cao năng lực thanh tra chuyên ngành. Chính phủ cần sửa đổi khung xử phạt vi phạm hành chính, nâng mức phạt tiền lên gấp 2 đến 3 lần đối với các hành vi không trang bị bảo hộ lao động, đồng thời áp dụng biện pháp đình chỉ thi công ngay lập tức đối với 100% công trình không có lưới chống rơi và lan can an toàn từ năm 2019.

Thứ tư, chuẩn hóa công tác đào tạo, huấn luyện an toàn thực chất tại doanh nghiệp. Các nhà thầu xây dựng phải bắt buộc tổ chức họp an toàn 15 phút đầu giờ (Toolbox Meeting) trước mỗi ca làm việc và cấp chứng chỉ huấn luyện an toàn cho 100% công nhân trước khi bước vào công trường, phấn đấu cắt giảm ít nhất 30% số vụ tai nạn nghiêm trọng trong vòng 2 năm triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Thứ nhất là các chủ đầu tư, nhà thầu thi công và doanh nghiệp xây dựng. Tài liệu cung cấp cơ sở để doanh nghiệp hoàn thiện quy trình kiểm soát rủi ro nội bộ, xây dựng kế hoạch bảo hộ lao động đạt chuẩn và tối ưu hóa ngân sách an toàn tại công trường.

Thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Xây dựng. Đây là nguồn tham khảo giá trị để đánh giá những bất cập của văn bản quy phạm pháp luật, từ đó xây dựng kế hoạch thanh tra trọng điểm và nâng cao tỷ lệ xử phạt đúng người, đúng hành vi.

Thứ ba là các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động. Luận văn cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh, góc nhìn so sánh luật học đa chiều và tập hợp số liệu thực chứng phong phú phục vụ giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

Thứ tư là đội ngũ kỹ sư an toàn (HSE) và người lao động trực tiếp tại công trường. Công trình giúp cán bộ an toàn nắm bắt các tiêu chuẩn pháp lý cần áp dụng, đồng thời giúp công nhân hiểu rõ quyền từ chối làm việc khi điều kiện an toàn không được đảm bảo.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao ngành xây dựng lại có tỷ lệ tai nạn lao động chết người cao nhất?
Môi trường làm việc ngành xây dựng luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy hiểm do tính chất di động, địa hình phức tạp, làm việc trên cao và thường xuyên vận hành các thiết bị nâng hạng nặng. Theo thống kê năm 2016, ngành này chiếm tới 23,8% tổng số vụ tai nạn chết người toàn quốc, phần lớn do nhà thầu cắt giảm chi phí bảo hộ và công nhân thiếu kỹ năng an toàn.

Người sử dụng lao động có những trách nhiệm tài chính nào khi công nhân bị tai nạn lao động?
Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu đến điều trị, trả đủ 100% tiền lương trong thời gian nghỉ điều trị và bồi thường ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động khi lỗi không thuộc về người lao động.

Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 có bước đột phá nào so với các quy định cũ?
Luật năm 2015 đã mở rộng đối tượng điều chỉnh sang cả khu vực không có quan hệ lao động (lao động tự do, làng nghề), quy định chi tiết quỹ bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp với mức đóng 1% quỹ lương và bắt buộc doanh nghiệp phải thành lập mạng lưới an toàn vệ sinh viên cơ sở.

Người lao động có quyền từ chối làm việc khi thấy công trường mất an toàn không?
Có. Điều 6 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định rõ người lao động có quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ lương khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn đe dọa nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe mà không bị coi là vi phạm kỷ luật.

Mô hình an toàn quốc tế nào phù hợp nhất để ngành xây dựng Việt Nam học hỏi?
Mô hình quản lý an toàn của Singapore và phương pháp dự báo Kizen Yochi của Nhật Bản là hai giải pháp tối ưu. Singapore quản lý rủi ro thông qua 39 bộ quy tắc ứng xử thực tế, trong khi Nhật Bản đào tạo công nhân thói quen chỉ tay - hô to để nhận diện triệt để 100% mối nguy trước khi thao tác.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bảo đảm an toàn lao động, đối chiếu chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với khung pháp luật Việt Nam.
  • Phân tích rõ thực trạng năm 2016 - 2017 với 4.388 vụ tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm 2017, chỉ ra ngành xây dựng chiếm 23,8% tổng số vụ tử vong do buông lỏng quy chuẩn giàn giáo và thiết bị nâng.
  • Vạch rõ khoảng trống chính sách khi hơn 70% lao động xây dựng thời vụ chưa được bảo vệ bởi bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc theo Nghị định số 37/2016/NĐ-CP.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao: chuẩn hóa 100% quy chuẩn kỹ thuật xây dựng giai đoạn 2018 - 2020, mở rộng bảo hiểm cho 2 triệu lao động thời vụ trước năm 2022 và tăng gấp 2 đến 3 lần mức phạt vi phạm.
  • Các doanh nghiệp xây dựng và cơ quan quản lý cần chủ động áp dụng ngay các khuyến nghị của luận văn để thiết lập môi trường làm việc an toàn, bền vững, bảo vệ nguồn nhân lực quý giá của đất nước.