Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động; Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động và thực tiễn thi hành trong ngành xây dựng; Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đảm bảo an toàn cho người lao động trong ngành xây dựng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và đảm bảo an toàn lao động cho ngƣời lao động 1. Khái niệm an toàn lao động Mỗi năm trên thế giới có hàng triệu vụ TNLĐ gây thiệt hại lên đến hàng tỷ đô la và dẫn đến cái chết cho hàng nghìn người đồng thời khiến cho rất nhiều người khác phải chịu cảnh thương tật vĩnh viễn, đó là hậu quả của việc duy trì môi trường làm việc với điều kiện lao động thiếu an toàn.
Tất nhiên, tất cả những hậu quả đã nêu đều có thể được phòng ngừa thông qua những chương trình hành động với mục tiêu xây dựng một môi trường làm việc an toàn, lấy con người làm trung tâm, chú trọng đến phát triển bền vững. Mang trên mình sứ mệnh bảo vệ NLĐ khỏi ốm đau, bệnh tật và những tổn thương liên quan đến công việc, năm 1919 Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization) được thành lập cùng nhiệm vụ làm tăng cơ hội có việc làm tốt và có thu nhập cho NLĐ trong điều kiện tự do, công bằng, an toàn và đảm bảo nhân phẩm. Xuất phát từ nhiệm vụ và sứ mệnh đã đề ra, năm 1981 Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 155 về ATVSLĐ và môi trường lao động; năm 1993 ILO tiếp tục thông qua Công ước số 174 về phòng ngừa những TNLĐ nghiêm trọng và đến năm 2001 ILO đã ban hành: “Hướng dẫn về hệ thống quản lý ATLĐ”, đây là một công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho các đơn vị sử dụng lao động trong việc thực hiện công tác đảm bảo ATLĐ nhằm bảo vệ NLĐ khỏi các nguy cơ mất an toàn trong quá trình lao động và hạn chế tối đa TNLĐ. Theo quan điểm của ILO thì hoạt động an toàn lao động bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về an toàn lao động theo đúng quy định của pháp luật và việc tuân thủ này là trách nhiệm và nghĩa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ của người sử dụng lao động, người lao động cần được chỉ đạo và cam kết thực hiện các hoạt động an toàn lao động cũng như là tạo điều kiện để thiết lập hệ thống an toàn lao động tại cơ sở.
Bàn về “Thế nào là an toàn lao động?” hiện nay trên thế giới, hầu hết các hệ thống pháp luật khi quy định về vấn đề an toàn tại nơi làm việc đều đưa ra khái niệm gộp chung “An toàn lao động” và “Vệ sinh lao động” với từ vựng thường dùng là “Occupational safety and health” có nghĩa là “An toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp”. “Sức khỏe nghề nghiệp” theo định nghĩa tại Công ước số 155 của ILO thì sức khỏe, liên quan đến công việc không chỉ là trạng thái không có bệnh tật mà còn bao gồm cả những yếu tố về thể chất và tinh thần có tác động đến sức khỏe và có liên quan trực tiếp đến ATLĐ [37]. Nhận thức về “sức khỏe nghề nghiệp” đã được ILO và WHO đưa ra lần đầu tiên vào năm 1950 và khái niệm này đã được hoàn thiện hơn tại kỳ họp thứ mười hai vào năm 1995. Theo đó, một môi trường làm việc đảm bảo được “Sức khỏe nghề nghiệp” cho người lao động là nơi mà ở đó đáp ứng được đầy đủ những nội dung sau: duy trì và nâng cao sức khỏe, khả năng lao động của NLĐ; cải thiện môi trường làm việc và phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc.
Như vậy có thể thấy đảm bảo “Sức khỏe nghề nghiệp” cho NLĐ cũng đồng nhất với việc thúc đẩy và duy trì một môi trường làm việc phù hợp với tâm lý và sinh lý của từng NLĐ, bảo vệ NLĐ khỏi các rủi ro từ việc làm của họ từ những yếu tốt bất lợi cho sức khỏe. Xét tại một số quốc gia dẫn đầu trong việc nghiên cứu và áp dụng những chính sách, biện pháp nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn tính mạng cho NLĐ như: Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, cụ thề: Luật ATVSLĐ của Mỹ (Occupational safety and Health Act of 1970) không đưa ra định nghĩa ATVSLĐ mà định nghĩa về tiêu chuẩn ATVSLĐ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo đó, tiêu chuẩn về ATVSLĐ là một tiêu chuẩn yêu cầu phải có điều kiện, được thừa nhận hoặc sử dụng một hoặc nhiều hoạt động, phương tiện, phương pháp, các quy trình hợp lý, cần thiết hoặc thích hợp để cung cấp một công việc và môi trường làm việc an toàn và lành mạnh [29]. Tại Hàn Quốc, các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa cụ thể về ATLĐ hay VSLĐ mà trực tiếp đưa ra những quy định về BNN và TNLĐ với mục đích duy trì và thúc đẩy môi trường làm việc an toàn cho NLĐ thông qua việc xây dựng và đảm bảo thực hiện những tiêu chuẩn về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp [27].
Tại Nhật Bản, Luật An toàn và sức khỏe công nghiệp và Luật Tiêu chuẩn Lao động là hai quy định chung lớn nhất trong việc đảm bảo an toàn và sức khỏe nghề nghiệp cho NLĐ, theo đó quy định về TNLĐ được đưa ra cùng với hệ thống những tiêu chuẩn về phòng ngừa những yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc, trách nhiệm của các thành viên trong quan hệ lao động [28]. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 của Việt Nam, “An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động”. Với tư cách là luật chuyên ngành, Luật an toàn vệ sinh lao động đã tiếp cận khái niệm “An toàn lao động” dưới góc độ là một chế định pháp luật, là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định các biện pháp phòng, tránh những sự cố có khả năng gây nguy hại cho con người trong quá trình lao động cũng như là biện pháp khắc phục những hậu quả của TNLĐ và cải thiện điều kiện lao động cho NLĐ. Các nhà ngôn ngữ học lại tiếp cận khái niệm “An toàn lao động” thuần túy dưới góc độ ngôn ngữ.
Theo đó, An toàn là “Yên ổn hẳn, tránh được tai nạn, tránh được thiệt hại”; Lao động là “Hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội” [19] và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “An toàn lao động” chính là tình trạng của điều kiện làm việc mà theo đó quá trình hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần được diễn ra một cách yên ổn, tránh được những tai nạn hay thiệt hại có thể xảy ra. Trong phạm vi của luận văn này, khi nghiên cứu về những vấn đề pháp lý về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động thì cần xem xét “An toàn lao động là một trạng thái của các điều kiện lao động mà khi đạt được thì người lao động sẽ không phải đối mặt với bất kỳ mối nguy hại nào trong quá trình làm việc [15], trạng thái này chỉ có thể đạt được khi có sự tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của pháp luật của tất cả các bên liên quan”. Sự cần thiết của việc đảm bảo an toàn lao động cho người lao động Sự phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với lao động. Theo quan điểm của Triết gia Friedrich Engels cũng như của đa phần các nhà khoa học hiện đại thì lao động giữ vai trò quyết định trong việc thúc đẩy quá trình tiến hóa của loài Vượn sang Người.
Nếu như trước kia, thông qua lao động loài người cổ xưa hoàn thiện về mặt thể chất thì ngày nay, thông qua lao động con người tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động. Xây dựng giàu có, tự do dân chủ cũng là nhờ người lao động. Tri thức mở mang, cũng nhờ lao động.
Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ của xã hội loài người” [18]. Hiểu một cách đơn giản thì lao động hình thành nên xã hội loài người và xã hội loài người tồn tại, phát triển là nhờ có lao động. Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với sự ra đời của hàng loạt máy móc, trang thiết bị lao động hiện đại, bên cạnh việc góp phần làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển của xã hội thì kéo theo đó là sự phát sinh liên tục những hiểm họa, rủi ro đối với NLĐ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khiến cho NLĐ có thể dễ dàng bị TNLĐ. Theo Giám đốc Văn phòng ILO Việt Nam, Tiến sĩ Chang – Hee Lee có phát biểu tại Lễ phát động Tháng an toàn, vệ sinh lao động ngày 18 tháng 5 năm 2017: “Hàng năm trên thế giới có khoảng 2,3 triệu người chết do TNLĐ và bệnh nghề nghiệp.
Số vụ TNLĐ chết người ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng chiếm tới 70% tổng số trên toàn cầu. Không phải ở đâu xa xôi, những mối nguy hiểm này ở ngay xung quanh chúng ta. Mỗi ngày, trên đường đi làm tôi đều đi qua một công trường xây dựng lớn. Ở đó, nhiều công nhân đang mạo hiểm tính mạng khi làm việc mà không sử dụng các phương tiện bảo hộ cá nhân đầy đủ.
Tôi tin rằng các quý vị ở đây cũng đều đã từng nhiều lần chứng kiến điều đó khi ngành xây dựng là ngành có nhiều TNLĐ chết người nhất tại Việt Nam” [33]. Cụ thể với những con số về số vụ TNLĐ tại Việt Nam theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong 06 tháng đầu năm 2017 trên cả nước đã xảy là 4.388 vụ TNLĐ (TNLĐ) làm 4.461 người bị tai nạn, trong đó số người chết là 418 người, số người bị thương nặng lên đến 843 người.