Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phân tích chuỗi cung ứng của Công ty cổ phần thực phẩm sữa Th 10 Chương 4: Giải pháp phát triển chuỗi cung ứng sữa tươi của công ty cổ phần thực phẩm sữa Th Chương 5: Kết luận 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Lược khảo tài liệu (1) Lê Thị Thanh Hiếu (2009) Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Cần Thơ, đề tài “Phân tích chuỗi cung ứng ngành hàng nấm rơm tỉnh Hậu Giang” đã phân tích chuỗi cung ứng nấm rơm tuy rằng mặt hàng nấm rơm đứng vị trí thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu. Nhưng hiện tại ta nhìn thấy được việc trồng nấm và phân phối còn lẻ tẻ, chưa đảm bảo được tiêu chuẩn chất lượng của thế giới. Việc cung cấp nấm rơm còn nhiều khó khăn, lượng cung thấp hơn lượng cầu, sẩn xuất thì không biết bán cho ai, lợi nhuận của người nông dân không cao,. Tác giả đã sử dụng ma trận SWOT để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, nguy cơ, thách thức và dựa trên những phân tích tác giả đã đề xuất một số giải pháp để giúp chuỗi cung ứng nấm rơm hoạt động hiệu quả hơn.
(2) Luận văn thạc sĩ của PGS.TS Hồ Tiến Dũng (2016), đề tài “Hoàn thiện chuỗi cung ứng ca tra tại cty TNHH sản xuất – thương mại – dịch vụ Thuận An, tỉnh An Giang” đã phân tích thực trạng chuỗi cung ứng cá tra và tác gải đã đánh giá hoạt động chuỗi cung ứng qua 3 đối tượng: Nhà sản xuất, nhà phân phối và khách hàng. Từ những phân tích đề xuất những giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng tại công ty Thuận An.2 Khái niệm về chuỗi cung ứng Một số khái niệm về chuỗi cung ứng: Chuỗi cung ứng là thuật ngữ khá phổ biến trong nền kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt thuật ngữ ấy không có một khái niệm chính xác cụ thể mà nó được nhiều tổ chức, tác giả tham gia nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau như: Chuỗi cung ứng hay còn gọi là Supply chain là một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và các nguồn nhân lực liên quan tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến người tiêu 12 dùng. Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến biến chuyển các tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu và các thành phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh để giao cho khách hàng cuối cùng (người tiêu dùng). Theo Lee & Billington (1992), Chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyển hóa nguyên liệu thô tư bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối.
Theo Ganeshan & Harrison (1995): Chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu tư nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Tức là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để hỗ trợ thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng. Còn theo Chopra Sunil & Peter Meindl (2001) cho rằng: Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn là nhà vận chuyển, khoh, người bán lẻ và cả khách hàng.
Mặc dù đưa ra nhiều định nghĩa, khái niệm nhưng chung quy lại tất cả chỉ khác nhau về từ ngữ còn nội dung thì vẫn tương tự nhau chúng ta có thể hiểu đơn giản “ Chuỗi cung ứng là hệ thống liên kết các tổ chức, nhà cung cấp, nhà sản xuất, và khách hàng nhằm tạo ra và phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ từ nguồn cung cấp cho người tiêu dùng cuối cùng”. Ngoài ra, chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng cường hiệu suất, giảm chi phí, cải thiện chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh.3 Khái niệm quản lý chuỗi cung ứng Những năm 1980 là những năm đột phá về quản lý chuỗi cung ứng. Thuật ngữ quản lý chuỗi cung ứng được xuất hiện rộng rãi vào những năm 13 1990. Và nhanh chóng trở thành thuật ngữ phổ biến do nó tập trung vào quản lí toàn diện, tích hợp của các hoạt động ftrong chuỗi cung ứng, từ nguồn cung cấp cho đến khách hàng cuối cùng.
Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management – SCM) là quá trình tích hợp quản lý cung và cầu, điều này bao gồm việc lập kế hoạch, quản lý các hoạt động như tìm nguồn cung ứng, sản xuất, hoạt động logistics,. Để biến đổi từ nhiên liệu thô thành sản phẩm và giao đến cho khách hàng. Đảm bảo mang lại giá trị cho doanh nghiệp, khách hàng và đạt được lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Xét trên hệ thống thì quản lí chuỗi cung ứng là sự kết hợp chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và những chiến thuật xuyên suốt theo những chức năng đó trong những công ty riêng biệt; kết hợp những chức năng kinh doanh truyền thống với chức năng kinh doanh trong chuỗi cung ứng; nhằm mục đích cải tiến hoạt động trong dài hạn cho nhiều công ty cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng.
Quản lí chuỗi cung ứng tạo ra dòng chảy liên tục về hàng hóa, dịch vụ, thông tin, dòng tiền, logistics ngược và sự phối hợp đồng bộ các bộ phận bên trong và đối tác bên ngoài tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về đáp ứng sự hài lòng của khách hàng, tối ưu hiệu quả trong toàn chuỗi.4 Thành phần trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng bao gồm 5 thành phần cơ bản và các bên liên quan đóng góp vào quá trình di chuyển sản phẩm từ nguồn cung cấp đến khách hàng cuối cùng. Mỗi thành phần là một chức năng khác nhau trong chuỗi cung ứng như: - Nhà cung cấp (Supplier): Nhà cung cấp là nguồn cung cấp sản phẩm, thành phần, hoặc dịch vụ cho chuỗi cung ứng. Họ có thể là nhà sản xuất, nhà phân phối, hoặc các bên thứ ba khác. Nhà cung cấp chịu trách nhiệm về việc 14 sản xuất hoặc cung cấp những gì được yêu cầu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Sản xuất (Manufacturer): Bước sản xuất trong chuỗi cung ứng thực hiện việc chuyển đổi các thành phần hoặc nguyên liệu từ nhà cung cấp thành sản phẩm hoàn chỉnh. Công đoạn sản xuất có thể bao gồm quá trình gia công, lắp ráp, kiểm tra chất lượng và đóng gói. - Nhà phân phối (Distributor): Nhà phân phối nhận sản phẩm từ nhà sản xuất và đóng gói, lưu trữ và phân phối chúng đến các địa điểm bán lẻ hoặc khách hàng cuối cùng. Nhà phân phối có thể là một hệ thống phân phối bao gồm các nhà kho, trung tâm phân phối, đại lý, nhà bán lẻ hoặc các kênh phân phối trực tiếp đến khách hàng.
- Bán lẻ (Retailer): Bán lẻ là bước cuối cùng trong chuỗi cung ứng, nơi sản phẩm được bán trực tiếp cho khách hàng cuối cùng. Các nhà bán lẻ có thể là các cửa hàng, siêu thị, trang web bán hàng trực tuyến hoặc các kênh bán lẻ khác. - Khách hàng (Customer): Khách hàng cuối cùng trong chuỗi cung ứng là người sử dụng hoặc tiếp nhận sản phẩm hoặc dịch vụ. Khách hàng có thể là người tiêu dùng cá nhân hoặc tổ chức.
Ngoài ra, bên cạnh đó còn một số thành phần khác như quản lí thông tin, quản lí rủi ro, hoạt động vận chuyển, lưu trữ, quản lí đặt hàng, dịch vụ hậu mãi. Các thành phần này là những yếu tố quan trọng để đảm bảo sự liên kết và tương tác hiệu quả giữa các bên trong chuỗi cung ứng.5 Mô hình chuỗi cung ứng phổ biến Mô hình chuỗi cung ứng là một khung tổ chức và quản lý các hoạt động, quy trình và liên kết giữa các bên liên quan trong việc di chuyển sản phẩm và dịch vụ từ nguồn cung cấp đến khách hàng cuối cùng. Nó mô tả cách các thành phần của chuỗi cung ứng tương tác với nhau và cung cấp sự định hình và hướng dẫn cho hoạt động của chuỗi cung ứng.1 Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Mô hình chuỗi cung ứng được coi là đơn giản khi doanh nghiệp đơn thuần chỉ làm việc và mua bán nguyên vật liệu đầu vào với một nhà cung cấp. Doanh nghiệp sẽ tự sản xuất các thành phẩm và bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng cuối cùng.1 Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Và hoạt động kiểm soát chuỗi cung ứng đa phần sẽ được thực hiện từ một phía (single-site) nhằm giảm bớt sự phức tạp trong các quy trình và cung cấp sản phẩm/dịch vụ tốt nhất đến khách hàng.
Thông qua đó, doanh nghiệp có thể giảm thiểu lãng phí, cải thiện khả năng đáp ứng và nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ.2 Mô hình chuỗi cung ứng phức tạp Trong mô hình chuỗi cung ứng phức tạp, doanh nghiệp nhập nguồn nguyên liệu đầu vào không chỉ từ một nhà cung cấp. Hoạt động nhập có thể liên quan đến nhiều đơn vị, nhà máy, … Ngoài ra, bên cạnh doanh nghiệp, thì trong quá trình sản xuất có thể có thêm nhiều nhà thầu phụ, đối tác sản xuất. Mô hình quản lý chuỗi cung ứng cần đảm bảo luồng hàng hóa nhập được lưu 16 chuyển một cách hiệu quả, đảm bảo theo kế hoạch sản xuất định trước. Sản phẩm có thể không chỉ được sản xuất ở một đơn vị.
Nó có thể được tạo ra từ nhiều doanh nghiệp “anh em” khác trong hệ thống. Việc này liên quan chặt chẽ đến cách thức quản lý hàng hóa sản xuất, tồn kho và lưu trữ ở nhiều địa điểm/văn phòng khác nhau.2: Mô hình chuỗi cung ứng phức tạp Sau quá trình sản xuất, hàng hóa thành phẩm đuộc chuyển đến tay người tiêu dùng qua nhiều kênh, địa điểm, trung tâm, phân phối, thị trường, … Việc này đòi hỏi mô hình chuỗi cung ứng mà doanh nghiệp lựa chọn cần có khả năng điều phối, xử lý các mối quan hệ n-n linh hoạt, kiểm soát việc giao nhận đúng – đủ - kịp thời. Mô hình chuỗi cung ứng phức tạp đòi hỏi sự quản lí và điều phối tổ chức chặt chẽ, cùng với việc sử dụng công nghệ và quy trình tối ưu để đảm bảo hiệu quả và hiệu suất toàn bộ hệ thống chuỗi cung ứng. 17 Trên thực tế hiện nay, với sự phát triển của nền công nghiệp 4.