CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI Hiện nay việc ứng dụng các thiết bị giám sát môi trường tại nước ta vẫn còn khá mới mẻ. Chương này sẽ trình bày về các ảnh hưởng của chất lượng không khí đối với sức khỏe con người và tình trạng không khí tại nước ta hiện nay. Ngoài ra, người đọc sẽ được tìm hiểu về một số thiết bị giám sát không khí ở các nước khác, cũng như đưa ra một cái nhìn tổng quan về đề tài đang được nghiên cứu. Chất lượng không khí và vấn đề sức khỏe Chỉ số ô nhiễm không khí là một thước đo đánh giá chất lượng không khí hằng ngày.
Chỉ số ô nhiễm không khí Hà Nội những ngày gần đây đang ở mức cao báo động, có thể gây nhiều hậu quả xấu đến sức khỏe con người. Tổng quan chỉ số chất lượng không khí AQI AQI được tính toán theo từng thành phần chất ô nhiễm trong không khí. Mỗi thông số sẽ xác định được một giá trị AQI cụ thể, giá trị AQI cuối cùng là giá trị lớn nhất trong các giá trị AQI của mỗi thông số (ở đây không dùng phương pháp tính giá trị trung bình vì chỉ cần có một thông số vượt quá ngưỡng cho phép là có thể kết luận môi trường đã bị ô nhiễm và có ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng). [4] Hiện nay trên thế giới rất nhiều quốc gia đã xây dựng phương pháp tính toán và công bố AQI.
Phương pháp tính toán AQI khá đa dạng, tuy nhiên các phương pháp đều được tính toán dựa trên nồng độ các khí gây ô nhiễm như: O3, CO, NO2, nồng độ bụi: TSP, PM10, PM2.5 được lấy trung bình trong khoảng 1giờ và 8 giờ hoặc 1giờ – 24giờ. Tại Việt Nam phương pháp tính toán AQI do Tổng cục môi trường ban hành được phát triển dựa theo phương pháp thứ 2: sử dụng các công thức đơn giản. Đồng thời việc tính toán AQI phải đảm bảo các yêu cầu sau: - AQI được tính toán riêng cho số liệu của từng trạm quan trắc không khí tự động cố định liên tục đối với môi trường không khí xung quanh; 2 - AQI được tính toán cho từng thông số quan trắc. Mỗi thông số sẽ xác định được một giá trị AQI cụ thể.
Giá trị AQI cuối cùng là giá trị lớn nhất trong các giá trị AQI của mỗi thông số; Thang đo giá trị AQI được chia thành các khoảng nhất định. Khi giá trị AQI nằm trong một khoảng nào đó, thì thông điệp cảnh báo cho cộng đồng ứng với khoảng giá trị đó sẽ được đưa ra. Các thông số thường được sử dụng là các thông số trong QCVN 05:2009/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh) bao gồm: SO2, CO, NOx, O3, PM10, TSP. Số liệu quan trắc được đưa vào tính toán đã qua xử lý, đảm bảo đã loại bỏ các giá trị sai lệch, đạt yêu cầu đối với quy trình quy phạm về đảm bảo kiểm soát chất lượng số liệu.
Ảnh hưởng chất lượng không khí tới sức khỏe 1. Ảnh hưởng đến hệ hô hấp Các tác động của ô nhiễm không khí trên đường hô hấp phụ thuộc vào loại và sự pha trộn các chất ô nhiễm với nhau, nồng độ trong không khí, thời lượng tiếp xúc, lượng chất gây ô nhiễm được hít vào và lượng chất gây ô nhiễm thâm nhập vào phổi. Trong khi PM10 đi vào cơ thể qua đường dẫn khí và tích tụ trên phổi, thì PM2.5 đặc biệt nguy hiểm hơn vì chúng bé đến mức có thể luồn lách vào các túi phổi, tĩnh mạch phổi và xâm nhập vào hệ tuần hoàn máu.5 cộng với khí CO hay SO2, NO2 nhiều, sẽ cản hemoglobin kết hợp oxi khiến tế bào thiếu oxi. Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tác động rõ rệt nhất lên phổi.
Các triệu chứng có thể được nhìn thấy ngay sau khi tiếp xúc với mức độ ô nhiễm cao, bao gồm kích ứng đường hô hấp, khó thở và tăng nguy cơ lên cơn hen suyễn. Tiếp xúc với ozon và các hạt bụi, chất ô nhiễm làm giảm chức năng phổi, đồng thời làm tăng nặng các bệnh phổi mãn tính. Khi tiếp xúc với chất gây ô nhiễm không khí trong một thời gian dài có thể làm gia tăng nguy cơ mắc 3 bệnh ung thư phổi. Chất lượng không khí xuống thấp khiến bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng, viêm xoang đi khám rất đông.
Mũi là cửa ngõ của đường hô hấp, do đó, đây là cơ quan đầu tiên chịu ảnh hưởng từ việc thay đổi thời tiết hay môi trường, khí hậu. Đối với tim Các nghiên cứu cho thấy ô nhiễm không khí có tác động tiêu cực đến sức khỏe tim mạch, làm tăng nguy cơ đau tim và tỷ lệ đột quỵ. Các loại bụi có kích thước nhỏ, các chất hóa học hay chất kháng viêm trong bụi có thể phát tán từ phổi vào hệ tuần hoàn, ảnh hưởng đến tim mạch. Nguyên nhân là không khí ô nhiễm ảnh hưởng đến khả năng giãn nở và co thắt của các mạch máu.
Dưới tác động của không khí ô nhiễm, của khói thuốc lá, các mạch máu bị giảm kích cỡ, cản trở lưu thông huyết mạch. Không khí ô nhiễm còn làm tăng nguy cơ tạo cục máu đông ở động mạch - nguyên nhân chính của chứng nhồi máu cơ tim. Đối với quá trình sinh sản Phụ nữ sống trong khu vực ô nhiễm không khí có nguy cơ sinh con tự kỉ cao gấp 2 lần so với bình thường. Mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến thai nhi sẽ càng tăng cao vào giai đoạn cuối của thai kỳ.
Ngoài ra, ô nhiễm không khí cũng được cho là liên quan đến sự giảm chất lượng tinh trùng, gây ảnh hưởng đến khả năng có con của nam giới. Tổn thương thận Ô nhiễm không khí có mối liên quan chặt chẽ với bệnh thận và suy thận. Nguyên nhân là do ô nhiễm không khí tạo gánh nặng khiến thận không thể lọc hết các phân tử ô nhiễm trong máu. Một số vấn đề khác Yếu xương cốt: Ô nhiễm không khí làm tăng nguy cơ loãng xương và các ca gãy xương liên quan.
Tác động này tương tự như tác động của khói thuốc lá đến hệ xương của cơ thể. Lão hóa da: Các chất ô nhiễm có thể phá hủy các tế bào da và ảnh hưởng đến khả năng tự tái tạo của da, gây thay đổi sắc tố của da, đẩy nhanh quá trình lão hóa khiến làn da trở nên xấu đi. Đau đầu: Trong thời gian mức độ ô nhiễm cao, các bệnh viện cũng thường tiếp nhận nhiều ca đau nửa đầu hơn. Thực trạng và giải pháp chất lượng không khí tại Việt Nam Ô nhiễm môi trường không khí đã ảnh hưởng tiêu cực đối với sức khỏe cộng đồng và gây ra thiệt hại đáng kể đối với các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch.
Ô nhiễm không khí đang có xu hướng gia tăng tại các đô thị lớn và khu công nghiệp (KCN), vì vậy cần phải có các giải pháp quản lý quyết liệt và hiệu quả. Chất lượng môi trường không khí ở Việt Nam được theo dõi, đánh giá dựa trên số liệu quan trắc môi trường định kỳ hàng năm của hệ thống quan trắc môi trường quốc gia và các địa phương. Các số liệu quan trắc sẽ được so sánh với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về môi trường không khí để đánh giá mức độ ô nhiễm. Theo các số liệu thống kê, tính toán, báo cáo đánh giá trong giai đoạn 2010 - 2012, diễn biến chất lượng môi trường không khí tại một số đô thị lớn của Việt Nam (Hà Nội, TP.
Hồ Chí Minh, Đồng Nai) có xu hướng suy giảm. Vấn đề ô nhiễm chủ yếu là bụi và bụi mịn (TSP và PM10), đặc biệt là đối với các khu vực đang trong quá trình xây dựng và các nút giao thông, nơi có lưu lượng phương tiện giao thông lớn. Phần lớn tại các khu vực này, nồng độ bụi và bụi mịn vượt quá tiêu chuẩn cho phép khá cao, khoảng từ 1,5 - 2,5 lần. 1: Ô nhiễm tại các đường giao thông Ở một số khu vực tập trung hoạt động sản xuất công nghiệp cũng có hàm lượng bụi cao vượt mức cho phép.
Nguyên nhân chính là do các cơ sở sản xuất vẫn sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, lại chưa đầu tư, vận hành hệ thống xử lý khí thải đã dẫn đến lượng khí thải công nghiệp đưa ra môi trường khá lớn. Tại các khu vực đang trong quá trình xây dựng, ô nhiễm bụi chỉ xảy ra vào giai đoạn nhất định và mang tính cục bộ. Nguyên nhân là do các chủ đầu tư, các đơn vị thi công công trình chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về che chắn bụi tại các công trường xây dựng và phương tiện chuyên chở vật liệu, phế thải xây dựng, phun nước rửa đường. Ngoài ra, việc đào lấp, sửa chữa hệ thống đường sá, diễn ra thường xuyên mà không thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường (BVMT), gây mất vệ sinh, ô nhiễm bụi tại nhiều khu vực.
Ở nông thôn, một số vùng cũng đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ do hoạt động sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề. Cụ thể, tại các khu vực nông thôn gần nhà máy nhiệt điện, xi măng, các làng nghề tái chế kim loại, chế tác đá, lò gạch. nồng độ bụi cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Bên cạnh đó, ô nhiễm do khói mù từ hoạt động đốt rơm rạ cũng là vấn đề cần được quan tâm.
6 Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các hoạt động quản lý, kiểm soát chất lượng không khí và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể: Trách nhiệm chủ trì và phân công quản lý nhà nước về chất lượng môi trường không khí còn phân tán, chưa rõ đầu mối quản lý giữa các Bộ có liên quan. Trong khi các chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí chưa cụ thể và chưa có kế hoạch quản lý chất lượng không khí ở Trung ương, cũng như địa phương. Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường không khí còn thiếu tính đồng bộ, công tác quan trắc, kiểm kê nguồn khí thải còn hạn chế, thiếu các chương trình quan trắc tổng thể và định kỳ cho các khu vực nông thôn và làng nghề; Nhiều hoạt động kiểm soát ô nhiễm chưa được triển khai như kiểm soát chất lượng nhiên liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, đào tạo, tập huấn, nghiên cứu và giáo dục nâng cao nhận thức về BVMT không khí.
Ngoài ra, nguồn nhân lực và kinh phí cho hoạt động kiểm soát ô nhiễm không khí chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.